I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Hoa (tên gọi khác: Khách, Hán hay Tàu)
Ngôn ngữ: họ sử dụng tiếng nói thuộc nhóm Hán và duy trì nhiều giá trị văn hóa đặc thù, tạo nên sự hòa quyện độc đáo giữa văn hóa Việt Nam và Trung Quốc.
Dân số: Khoảng 749.000 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).
Phân bố dân cư: cộng đồng này sinh sống chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Sóc Trăng.
Nguồn gốc: Người Hoa di cư đến nước ta qua nhiều đợt khác nhau, bắt đầu từ thế kỷ XVI và kéo dài đến cuối thời Minh, đầu thời Thanh, tiếp diễn cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ còn được biết đến với nhiều tên gọi như Khách, Hán hay Tàu. Quá trình thiên di diễn ra cả ở miền Bắc lẫn miền Nam, bằng nhiều con đường và trong nhiều thời điểm, từ thời Bắc thuộc cho đến năm 1954. Sau khi vĩ tuyến 17 được xác lập, khoảng bốn đến bốn vạn rưỡi người Hoa từ miền Bắc tiếp tục di cư vào miền Nam.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp: Người Hoa ở nông thôn chủ yếu làm nông, canh tác lúa nước; ở thành thị họ nổi bật với nghề dịch vụ, buôn bán và tiểu thủ công nghiệp như gốm, làm giấy súc, nhang hay các ngành nghề ven biển như làm muối và đánh bắt cá. Trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh, họ đặc biệt coi trọng chữ “tín”, xem đó là nền tảng của uy tín cộng đồng và sự phát triển bền vững.
Tổ chức - xã hội: mang tính phụ quyền, song cộng đồng vẫn rất gắn kết dù sự phân hóa giàu nghèo đã xuất hiện.
Nhà ở: Nhà cửa của họ gồm các kiểu nhà ba gian hai chái, nhà chữ Môn, chữ Khẩu, thường làm bằng gạch mộc, đá hoặc trình tường và lợp ngói máng, quế hay phên nứa. Ở nông thôn, họ sống thành thôn làng gần chân núi, cánh đồng, ven biển hoặc trục giao thông thuận lợi, nhà cửa xếp theo từng dòng họ; ở đô thị, họ tụ cư thành các khu phố riêng.
III. Văn hoá đặc trưng:
Trang phục: Trang phục phụ nữ đặc trưng với áo cổ cao cài khuy lệch, xẻ tà hoặc sườn xám ôm dáng với màu đỏ, hồng và các gam đậm; nam giới thường mặc áo đen hoặc xanh đậm, cổ đứng, cài khuy vải. Ở cả hai giới, trang sức có vai trò quan trọng: phụ nữ đeo vòng tay, bông tai, dây chuyền bằng đồng, vàng, đá hay ngọc, còn đàn ông có tập quán bịt răng vàng như một hình thức trang sức thể hiện địa vị. Người Hoa thường tự may trang phục bằng vải thổ cẩm, chuộng màu sắc tươi sáng.
Văn nghệ dân gian: hát, múa, hài kịch, sử dụng đa dạng nhạc cụ như tiêu, sáo, tỳ bà, nhị, đàn nguyệt hay chập chõa. Hát “sơn ca” (sán cố) là thể loại được ưa chuộng nhất, nhất là trong giới trẻ, và nhiều “nhạc xã” nghiệp dư đã tồn tại từ lâu.
Phong tục - tập quán:
Đám cưới trước kia của người Hoa rất cầu kỳ ảnh hưởng của lễ thức Nho giáo phương Đông. Ngày nay, lễ cưới của người Hoa tương tự người Việt được chia làm hai giai đoạn: lễ hỏi và lễ cưới. Đám cưới diễn ra tuần tự ở hai bên nhà trai và nhà gái. Đám cưới ngày nay đơn giản hơn trước rất nhiều, một số nghi thức đã được lược bỏ. Tặng phẩm trong đám cưới được thay bằng phong bao (tiền) giúp cho đôi vợ chồng làm vốn bắt đầu cuộc sống hôn nhân. Khi rước dâu về nhà chồng, có tục cô dâu rót rượu trà mời gia đình bên chồng biểu thị sự kính trọng, vâng phục phép tắc nhà chồng; rót rượu mời chồng đêm tân hôn thể hiện sự đằm thắm chung thủy, phục tùng chồng.
Đám tang của người Hoa trước kia gồm tuần tự các lễ như: lễ cáo phó, mua nước về phạm hàm, lễ phạm hàm, khâm liệm, phát tang, di quan, mở cửa mả, cúng 49 ngày... Ngày nay, việc ma chay của người Hoa ở Đồng Nai có những nét tương đồng với người Việt ở địa phương. Đám tang gồm các bước: báo tang, phát tang, khâm liệm, phúng điếu, đưa đám tang chôn cất, mở cửa mả… Ở thành phố, thị xã, thị trấn, lúc đưa đám ngoài ban nhạc ngũ âm, đối với tang chủ khá giả người ta còn thấy có một số ban nhạc kèn tây phục vụ tấu những khúc nhạc sôi động. Trước năm 1995 (chưa có lệnh cấm đốt pháo), đám tang của người Hoa còn có tục đốt pháo để trừ tà ma.
IV. Ẩm thực, lễ hội:
Ẩm thực:
Lương thực chính là gạo nhưng bữa ăn thường đi kèm mì xào, hủ tiếu, cháo trắng hoặc bánh bao, xíu mại ở những gia đình khá giả hơn. Các loại thức uống truyền thống của họ không chỉ để giải khát mà còn được coi như vị thuốc giúp bồi dưỡng cơ thể.
Lễ hội:
Theo phong tục hàng năm, vào dịp Rằm tháng Giêng, sau các hoạt động của Lễ tết Nguyên Tiêu là người Hoa lại đến chùa ông Bổn dâng hương, xem đấu đèn. Theo quan niệm dân gian, việc đấu được đèn lộc không chỉ là vinh dự cho mỗi người và gia đình mà còn giúp rước về tài lộc, bình an, làm ăn phát đạt, mang một ý nghĩa là để tích công đức qua việc làm thiện nguyện gây quỹ cho Hội Tương tế người Hoa tương trợ cho đồng bào nghèo tại địa phương, bảo trợ quỹ khuyến học và các hoạt động văn hóa, xã hội khác.
Các loại đèn dự đấu giá đã được Ban Tổ chức trình trên bệ thờ chánh điện trước đó. Dưới mỗi cây đèn đều có ghi các câu chúc trên tấm liểng nhỏ được nhà chùa chọn lọc theo ý nghĩa khác nhau. Ngoài những cây đèn được Ban Tổ chức chuẩn bị, cá nhân cũng có thể đưa đèn đến để đấu giá, người mang đèn đến dự đấu giá cũng muốn thông qua cây đèn của mình để tăng giá trị đóng góp cho việc thiện nguyện.
Tổ chức, cá nhân muốn tham gia vào buổi đấu đèn sẽ đăng ký trước với ban tổ chức. Buổi đấu đèn diễn ra theo trình tự đấu giá từng cây đèn một cho đến hết số lượng đèn chuẩn bị cho năm đó. Đấu được đèn lộc không chỉ là vinh dự cho mỗi người và gia đình mà còn giúp rước về tài lộc, bình an, làm ăn phát đạt.
Tại đây, các vị trưởng bối trong Hội Tương tế người Hoa nêu ý nghĩa lễ hội tết Nguyên tiêu và mục đích cũng như ý nghĩa của đấu đèn. Sau khi 4 chiếc đèn mang tên “Thiên địa phụ mẫu”, “Cẩm thiên đại đế”, “Thiên hậu Thánh mẫu ban cho”, “Phúc đức chánh thần” được an vị trước bàn thờ trung tâm chính điện chùa, các vị chức sắc trong Hội Tương tế người Hoa thực hiện nghi thức dâng hương, bái tế xin phép vị thần cho phép Ban thư ký tiến hành nghi thức đấu đèn theo phong tục truyền thống.
V. Đóng góp:
Ở Đồng Nai có ba di tích đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia của người Hoa gồm: đình Tân Lân, Chùa Ông, miếu Tổ Sư.