I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Nùng (Nồng).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái trong ngữ hệ Thái - Ka đai.
Dân số: khoảng 1.083.298 người.
Phân bố dân cư: Sống tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên (Bắc Kạn cũ), Tuyên Quang (Hà Giang cũ), Bắc Ninh (Bắc Giang cũ), Quảng Ninh, Lào Cai (Yên Bái cũ) và chủ yếu ở vùng trung du, miền núi thấp.
Đặc điểm cư trú: Sống tập trung thành bản, làng ở các thung lũng, triền đồi thấp, gần nguồn nước để thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp.
Nguồn gốc: Người Nùng có quan hệ lịch sử lâu đời với các nhóm cư dân ở vùng Quảng Tây (Trung Quốc) và di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 - 300 năm.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp:
Nông nghiệp: trồng lúa nước, cây hồi và các loại cây có giá trị cao như trẩu, sở, thuốc lá, chè, mía, trám, bông, chàm…
Chăn nuôi đa dạng gồm trâu, bò, ngựa, dê, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, chó, mèo, ong, tằm và cá.
Nghề thủ công như dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, giấy dó, ngói âm dương, trong đó nghề rèn nổi bật và phát triển, đặc biệt ở xã Phúc Sen (Cao Bằng).
Tổ chức xã hội - gia đình: Người Nùng theo chế độ gia đình phụ hệ, mỗi bản làng có trưởng bản là người uy tín đảm nhiệm việc điều hành và giải quyết các công việc chung của cộng đồng.
Nhà ở: Tiêu biểu là ngôi nhà sàn, lợp ngói máng, có ba tầng sử dụng. Tầng 1 là gầm sàn dành cho gia cầm, gia súc, công cụ sản xuất; tầng 2 là sàn dành cho người ở và các đồ dùng sinh hoạt; tầng 3 là gác, làm kho chứa lương thực, các thứ khác được bảo quản ở nơi khô ráo. Phía trước nhà có sàn phơi. Ở một số vùng, người Nùng làm nhà trình tường. Trong nhà ở của người Nùng, bếp không chỉ để nấu ăn, mà còn để sưởi ấm, nhất là mùa đông giá lạnh.
III. Văn hóa đặc trưng:
1. Trang phục:
Trang phục nữ: Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông; đội khăn vuông, chít kiểu mỏ quạ.
Trang phục nam: Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải; đội mũ, nhất là khi tiến hành các nghi lễ mang tính tâm linh.
Văn nghệ dân gian: Nổi bật nhất là Then, vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính tâm linh, do thầy Then sáng tạo lời ca và giai điệu, thường gắn với các nghi lễ cúng cầu hoặc lễ hội. Bên cạnh đó, Sli là hình thức hát giao duyên của thanh niên nam nữ theo lối đối đáp, thường hát theo hai bè. Nhạc cụ truyền thống của người Nùng gồm đàn tính, trống, chiêng.
2. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Nam nữ được tự do tìm hiểu, trao kỷ vật, nhưng hôn nhân cuối cùng do cha mẹ quyết định; nhà gái thách cưới bằng thịt, gạo, rượu, tiền, lễ chính là đưa dâu về nhà chồng.
Sinh đẻ: Có lễ đặt bàn thờ bà mụ, lễ mừng đầy tháng và lễ đặt tên khi trẻ trưởng thành.
Ma chay: Được tổ chức để đưa hồn người chết về thế giới bên kia.
Nhà mới: Chú trọng chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và tổ chức nghi lễ thổ công.
Tín ngưỡng: Thờ cúng chủ yếu là tổ tiên, ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan Âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh.
Lễ tết: Ăn tết giống người Việt và người Tày, mừng sinh nhật nhưng không cúng giỗ.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Người Nùng có ẩm thực phong phú, chủ yếu dùng gạo tẻ và gạo nếp. Từ gạo tẻ, họ chế biến cao quyển, cao xằng; từ gạo nếp làm các loại xôi nhiều màu (tím, đen, đỏ, vàng), xôi trám đen, xôi trứng kiến, cùng nhiều loại bánh truyền thống. Một số món ăn đặc sản gắn với các dịp lễ, tết như bánh chưng dài và gà trống thiến trong Tết Nguyên đán, bánh ngải (bánh dày lá ngải cứu) vào Tết cuối tháng Giêng, hay lợn quay nhồi lá mắc mật trong ngày cưới, sinh nhật. Những món ăn này vừa phục vụ sinh hoạt hằng ngày, vừa gắn liền với phong tục và tín ngưỡng của cộng đồng.
Lễ hội đóng vai trò quan trọng, tiêu biểu nhất là lễ Then. Thông thường nghi lễ diễn ra trong 2 ngày đêm với nhiều nội dung như: Lễ cúng tổ tiên, lễ dọn đường cho các quan. Nghi lễ hát then bắt đầu cuộc hành trình lên mời Ngọc Hoàng và các sư phụ Then đã về với tiên tổ cùng về làm lễ "Lẩu then" với các phần lễ cúng mời, cúng dâng rượu, cúng trừ ma, cúng giải hạn, cúng cầu an rồi dần phát triển thêm các lễ cúng tổ tiên, cúng sinh nhật, cúng nhà mới...Trong các nghi lễ đó, hát then là một cuộc diễn xướng trường ca mang màu sắc tín ngưỡng tường thuật lại cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin đáng thần linh giải quyết một vấn đề gì đó cho gia chủ. Trong nghi lễ, âm nhạc luôn luôn là yếu tố xuyên suốt với nhiều bài bản, làn điệu phù hợp với từng phần nghi lễ.
V. Đóng góp:
Người Nùng còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biên giới phía Bắc. Họ luôn sống hòa thuận với các dân tộc anh em cùng nhau xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa chung của đất nước. Về văn hóa, góp phần bảo tồn văn hóa đặc sắc như hát Then - đàn tính, lễ cầu mùa; giữ gìn tri thức dân gian về nông nghiệp, dệt nhuộm và thảo dược; tham gia phát triển kinh tế - xã hội vùng biên.