I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Hà Nhì (Hà Nhi gia, U Ní, Xá U Ní).
Nhóm địa phương: Hà Nhì Hoa, Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì Đen.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng), gần với Miến hơn.
Dân số: khoảng 25.539 người.
Phân bố dân cư: Người Hà Nhì Hoa chủ yếu cư trú tại các huyện của hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu; người Hà Nhì Đen cư trú chủ yếu tại các xã trong huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai cũ, một bộ phận cư trú ở hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu.
Đặc điểm cư trú: Sống tập trung thành từng bản.
Nguồn gốc: Cư dân Hà Nhì đã từng sinh sống lâu đời ở nam Trung Quốc và Việt Nam. Từ thế kỷ thứ 8, thư tịch cổ đã viết về sự có mặt của họ ở Tây bắc Việt Nam. Nhưng phần lớn tổ tiên người Hà Nhì hiện nay là lớp cư dân di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trở lại đây.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp:
Canh tác lúa nước; làm nương cày hoặc nương cuốc để trồng ngô hoặc rau đậu, bầu, bí, bông, chàm...
Chăn nuôi gia súc, gia cầm theo lối chăn thả tự nhiên.
Nghề thủ công như đan lát, trồng bông dệt vải…
Tổ chức xã hội - gia đình: Gia đình nhỏ phụ quyền song người phụ nữ vẫn được trân trọng trong xã hội.
Nhà ở: Hầu hết cư dân ở nhà đất, tường trình chắc chắn, dày tới 30-40cm, thích hợp với khí hậu lạnh vùng núi cao. Tường nhà cao 3-4m, mái dốc và ngắn, nhà không có hiên, chỉ có một cửa ra vào. Trong nhà còn một lớp tường khác để phòng thủ, chống rét, chống sương và mây mù lùa vào nhà, gọi là hiên trong. Đây cũng là nơi để uống nước, tiếp khách của gia chủ. Nhà ở của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai thường được bố trí như sau: hai gian đầu hồi được ngăn thành hai buồng dành cho vợ chồng chủ gia đình và con cái hoặc vợ chồng con trai. Khoảng 1/3 chiều rộng của hai gian giữa là phần đất, phần còn lại dựng thành sàn. Ở phần đất có bếp lò nấu nướng và để chạn bát. Phần sàn là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, phòng ngủ của con cái chưa xây dựng gia đình và khách. Bếp lửa được đặt phía trên sàn.
III. Văn hóa đặc trưng:
1. Trang phục:
Trang phục nữ: Phụ nữ ở hai nhóm Hà Nhì ăn mặc khác nhau. Phụ nữ Hà Nhì Đen chủ yếu mặc áo và đội khăn màu chàm, không trang trí, thêu thùa, áo ngắn đến đầu gối, gấu to và hơi nhô ra ở phần giữa, cài cúc bên nách phải và chỉ trang trí bằng cách đính những đồng xu, khuy bạc. Chỉ phụ nữ có chồng mới đội khăn. Áo của phụ nữ Hà Nhì Hoa được may hai lớp, dài đến mắt cá chân, tay áo được trang trí hoa văn và đầu đội khăn màu sặc sỡ.
Trang phục nam: Áo của nam giới được làm bằng vải tự dệt, nhuộm màu chàm hoặc đen. Quần chân què, cạp to, gấu có viền, chiều dài phù hợp với chiều cao của người mặc.
Văn hóa đặc trưng:
Truyện thần kỳ, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ…
Dân ca, dân vũ là những hình thức văn nghệ được mọi lứa tuổi ưa thích.
Các loại nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính, đàn môi, sáo.
Múa: Múa dệt vải (xà là gồ), múa sản xuất (te ma ú chà khồ tố), múa nón, múa xòe vòng (cá nhi nhi), múa trống, múa ngày đẹp (á mì sơ)...
Các trò chơi như đấu vật, đuổi bắt, trốn tìm, chơi cù, đu quay.
2. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Hôn nhân của người Hà Nhì chủ yếu do trai gái tự tìm hiểu, nhưng nghi lễ cưới có sự khác nhau giữa các vùng. Có nơi cưới qua nhiều lần, có lễ đưa dâu về nhà chồng và lễ cưới lớn tổ chức muộn khi gia đình đã khá giả; ở một số vùng khác, sau lễ hỏi con rể phải ở rể, chỉ khi trả đủ tiền cưới mới tổ chức cưới chính thức.
Sinh đẻ: Phụ nữ Hà Nhì sinh con theo nhiều tập tục truyền thống với mong muốn mẹ tròn con vuông. Việc sinh nở gắn với các nghi thức và kiêng kỵ, rau đẻ được chôn ở vị trí nhất định trong nhà, và gia đình dùng dấu hiệu trước cửa để báo cho cộng đồng biết có trẻ mới sinh.
Ma chay: Tang lễ có nhiều phong tục riêng như làm quan tài từ thân cây khoét rỗng, chọn vị trí huyệt mộ theo tục lệ và tránh chôn cất vào mùa mưa, thể hiện quan niệm tâm linh và sự tôn trọng đối với người đã khuất.
Tín ngưỡng: Họ tin có linh hồn, thờ cúng tổ tiên, cúng bản và các nghi lễ nông nghiệp.
Lễ tết: Người Hà Nhì ăn tết năm mới vào đầu tháng 10 âm lịch. Trong năm còn có Tết cơm mới, Tết mồng năm tháng năm, rằm tháng 7.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Bữa ăn hằng ngày của người Hà Nhì thường chỉ có một món xào hoặc kho và một món canh rau luộc, đặc biệt món luộc của người Hà Nhì không bao giờ cho muối hoặc gia vị. Người Hà Nhì cũng có xôi màu và một số loại bánh làm từ gạo nếp. Về đồ uống, người Hà Nhì chuộng uống nước một số loại cây có vị thanh ngọt, cùng với nước chè hoặc rượu. Vào dịp lễ tết, họ thường làm nhiều loại bánh, ưa dùng thịt nướng, thịt xào và đặc biệt thích ăn cháo ám nấu với thịt gà hoặc thịt lợn.
Lễ cúng thần nước được tổ chức tại nguồn nước thiêng “Lù khụ sụ”, thường vào đầu năm hoặc trước vụ sản xuất mới. Trong lễ, thầy cúng dâng vật cúng, cầu xin thần nước phù hộ, sau đó dân làng cùng dọn vệ sinh và bảo vệ nguồn nước. Buổi chiều cùng ngày, người Hà Nhì còn làm lễ Gạ ma gio, một nghi lễ lớn mang tính cộng đồng. Lễ này nhằm cầu cho nguồn nước luôn dồi dào, trong sạch, đảm bảo cuộc sống và sản xuất, đồng thời nhắc nhở mọi người ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Lễ cúng thần rừng “Mu thu gio” diễn ra vào tháng Ba hằng năm. Dân làng tập trung cúng thần rừng với lễ vật truyền thống và tham gia các sinh hoạt cộng đồng. Lễ hội này nhằm cầu mùa màng tốt tươi, gia súc phát triển, con cháu đông đúc, đồng thời thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ rừng - một không gian sinh tồn quan trọng của người Hà Nhì.
Lễ hội cúng cầu mùa “Khô già già” là một trong những lễ lớn nhất trong năm, thường tổ chức trước hoặc đầu vụ gieo trồng. Trong lễ, dân làng làm lễ cúng thần linh, tổ chức ăn uống chung và sinh hoạt cộng đồng, kèm theo hát múa dân gian. Lễ hội này nhằm cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống no đủ và củng cố sự gắn kết trong cộng đồng làng bản.
V. Đóng góp:
Dân tộc Hà Nhì góp phần làm phong phú văn hóa Tây Bắc qua các lễ hội truyền thống, nghề dệt thổ cẩm, âm nhạc và điệu múa, đồng thời tham gia bảo vệ biên cương, khai phá đất đai, lập bản làng và đóng góp trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.