I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Dân tộc Xtiêng (Stiêng) có tên tự gọi là Điêng - còn có nhiều tên gọi khác như: Xa Điêng, Xơ Điêng, Xa Chiêng.
Ngôn ngữ: Người Xtiêng nói tiếng Xtiêng, một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me trong ngữ hệ Nam Á.
Dân số: Tổng dân số khoảng 100.752 người
Phân bố dân cư: Người Xtiêng cư trú tập trung ở địa bàn tỉnh Bình Phước và một số địa phương của các tỉnh lân cận.
Đặc điểm cư trú: Dân tộc sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ. Người Xtiêng quần cư theo làng, và gọi đơn vị cư trú của mình là “bon”, “poh” hay “wang” tùy theo địa phương sinh sống. Trong làng truyền thống của người Xtiêng, người có địa vị cao nhất là Chủ làng (tom wang hay tom bon).
Nguồn gốc: Do người Xtiêng không có chữ viết và không có tư liệu lưu giữ về lịch sử bản tộc nên lịch sử nguồn gốc tộc người này chủ yếu dựa trên các truyền thuyết dân gian và một số kết quả nghiên cứu khảo cổ học, nhân chủng học.
II. Đời sống xã hội:
1.Nghề nghiệp:
Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp, tùy từng vùng mà nhóm làm rẫy hoặc làm ruộng nước. Kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo vệ trước sự phá phách của chim muông. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.
2. Tổ chức xã hội - gia đình:
Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt.
3. Quan niệm sống, tính cách con người:
Người Xtiêng tin vào tôn giáo đa thần, vạn vật hữu linh, mọi vật đều có hồn. Vì vậy họ thờ thần sấm sét, trời, đất, mặt trăng, mặt trời, núi, sông,...Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.
4. Nhà ở:
Người Xtiêng cư trú trong các ngôi nhà sàn dài hoặc nửa sàn. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nơi nhiều thế hệ người Xtiêng cùng sinh sống. Nhưng ngày nay, người Xtiêng chủ yếu ở nhà ngắn theo từng hộ riêng biệt.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục:
Thông thường, đàn ông Xtiêng đóng khố, ở trần, còn đàn bà mặc áo, quấn váy. Họ thích đeo nhiều trang sức, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng. Họ cũng thích đeo hoa tai lớn bằng ngà voi. Hiện nay, đàn ông Xtiêng mặc như người Việt, nữ thì mặc áo cánh, sơ mi.
2. Văn nghệ dân gian:
Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.
3. Phong tục - tập quán:
Hôn nhân: Dân tộc Xtiêng thực hiện chế độ hôn nhân nội tộc và ngoại hôn dòng tộc. Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.
Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Tùy trường hợp chết mà người Xtiêng lựa chọn cách thức, vị trí chôn khác nhau
IV. Ẩm thực lễ hội:
Đồng bào Xtiêng thường ăn cơm nấu từ gạo tẻ. Thức ăn chính của đồng bào là cơm, sắn luộc, cá và các loại rau. Trước đây, người Xtiêng có thói quen ăn bốc, nhưng nay họ đã biết dùng thìa, đũa.
Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.
V. Đóng góp:
Người Xtiêng đã giữ gìn các phong tục tập quán, trang phục, ngôn ngữ, tín ngưỡng và lễ hội truyền thống qua nhiều thế hệ. Những giá trị này góp phần làm đa dạng bản sắc văn hóa Việt Nam và tạo nên kho tàng di sản dân tộc quý giá.