I. Tình hình chung:
Tên tự gọi: Bố Y.
Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia...
Nhóm địa phương: Bố Y và Tu Dí.
Dân số: khoảng 3.232 người.
Ngôn ngữ: Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), còn nhóm Tu Dí nói ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng).
Phân bố dân cư: Nhóm Bố Y ở tỉnh Hà Giang đi theo sông Nhiệm và sông Nho Quế vào cư trú ở một số xã thuộc huyện Đồng Văn và Quản Bạ.
Nguồn gốc: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc sang cách đây khoảng 150 năm.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp: Người Bố Y vốn giỏi làm ruộng nước nhưng đến Việt Nam cư trú ở vùng cao nên chủ yếu phải dựa vào canh tác nương rẫy và lấy ngô làm cây trồng chính. Bên cạnh đó mỗi gia đình thường có một mảnh vườn để trồng rau. Ngoài nuôi gia súc, gia cầm họ còn nuôi cá ruộng và biết làm nhiều nghề thủ công như dệt, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc, đan lát, làm đồ gỗ…
Nhà ở: Là cư dân nông nghiệp làm ruộng nước, người Bố Y ở huyện Quản Bạ khi chọn đất làm nhà thường chọn những nơi gần nguồn nước để thuận tiện cho việc sinh hoạt, cày cấy. Để chọn đất làm nhà, người Bố Y thường chọn những chỗ đất bằng phẳng, rộng khoảng 40 - 50m2, sau đó làm lễ cúng thổ địa trên nền đất đó để cầu mong cho ngôi nhà mình sắp làm sẽ bền vững, làm ăn phát đạt, các thành viên trong gia đình khỏe mạnh. Nhà đất có 2 mái lợp gianh, gỗ hoặc ngói, tường đất trình. Nhà có 3 gian, có sàn gác trên quá giang là chỗ để lương thực và là chỗ ngủ của những người con trai chưa vợ.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục:
Nam giới thường mặc áo cổ viền, loại áo cánh ngắn, tứ thân; quần lá nhuộm màu chàm bằng vải tự dệt.
Phụ nữ Bố Y mặc áo ngắn năm thân xẻ nách phải, cổ, ống tay áo, chỗ cài cúc được trang trí và viền vải khác màu, hoa văn sặc sỡ. Trang sức người Bố Y trước đây cũng có chạm bạc nhưng ít và manh mún.
2. Văn nghệ:
Ở nhóm Tu Dí thường hát đối đáp tại phiên chợ xuân hay tại nhà, lời ca bằng tiếng Hán, được phụ hoạ bằng kèn lá.
Chơi: Trong dịp hội hè, người Bố Y có các trò chơi đánh đu, cờ tướng, đánh quay, đánh khăng.
3. Phong tục tập quán:
Cưới xin gồm 3 bước:
Bước 1: Nhà trai cử 2 bà mối sang nhà gái xin lá số cô gái về để so tuổi. Nhà gái thường tỏ thiện chí bằng cách tặng nhà trai 10 quả trứng gà nhuộm đỏ. Nếu thấy “hợp tuổi”, nhà trai cử 2 ông mối sang trả lá số và xin “giá ăn hỏi”.
Bước 2: Lễ ăn hỏi. Sau lễ này, hôn nhân của đôi trai gái coi như được định đoạt.
Bước 3: Lễ cưới. Nhà trai đưa sính lễ cho nhà gái. Ngoài một số thực phẩm còn có 1 bộ trang phục nữ. Chàng rể không đi đón dâu. Khi về nhà chồng, cô dâu cưỡi ngựa do em gái chồng dắt và mang theo một cái kéo, 1 con gà mái nhỏ để đến giữa đường thì thả vào rừng.
Sinh đẻ:
Xưa kia, người phụ nữ có tục đẻ ngồi, cắt rốn cho trẻ bằng mảnh nứa, nhau (rau) chôn ngay dưới gầm giường. Khi đứa trẻ được 3 ngày làm lễ cúng mụ, đặt tên tục, đến khi được 2- 3 tuổi mới đặt tên chính thức. Nếu đứa trẻ hay ốm đau thì phải tìm bố nuôi cho vía của nó có chỗ nương tựa.
Ma chay:
Ma chay là thể hiện tình cảm của người sống với người chết và đưa hồn người chết về quê cũ. Trước khi đưa đám bắn 4 phát súng, lúc khiêng quan tài cho chân người chết đi trước. Từ nhà đến huyệt phải nghỉ 3 lần (nếu vợ hoặc chồng còn sống) hoặc 4 lần (nếu vợ hoặc chồng đã chết). Người nhà để tang 3 năm, trong thời gian có tang con trai không được uống rượu, con gái không được đeo đồ trang sức, con cái không được lấy vợ, lấy chồng.
Thờ cúng:
Trên bàn thờ đặt 3 bát hương thờ trời, táo quân và tổ tiên. Dưới gầm bàn thờ đặt một bát hương thờ thổ địa. Nếu bố mẹ vợ chết không có người thờ cúng thì con rể lập bàn thờ nhỏ cạnh cửa để thờ.
Lễ tết:
Có nhiều Tết: Nguyên đán, Rằm tháng giêng, 30 tháng giêng, Hàn thực, Ðoan ngọ, Mùng 6 tháng 6, Rằm tháng 7, Cơm mới. Tết Cơm mới tổ chức vào tháng 8 hay tháng 9 âm lịch, có bánh chưng, bánh chay và xôi nhuộm màu.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Ẩm thực: Gạo được sử dụng làm cơm là chủ yếu, còn ngô lại được sử dụng để làm hàng hóa tăng thêm thu nhập và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Người Bố Y ăn ngô xay nhỏ đem luộc cho chín dở rồi mới đồ lên gọi là mèn mén.
Tết Thanh Minh của người Bố Y ở Mường Khương là một nghi lễ truyền thống quan trọng nhằm tưởng nhớ tổ tiên và gắn kết dòng họ. Lễ thường diễn ra sau ngày Lập xuân 45 ngày hoặc sau Đông chí 105 ngày. Vào dịp này, các gia đình trong họ cùng nhau tảo mộ, dọn dẹp và đắp lại phần mộ tổ tiên, đồng thời chuẩn bị lễ vật như lợn quay, xôi, rượu, hoa quả để dâng cúng. Trưởng họ sẽ chủ trì nghi thức khấn mời thần linh và tổ tiên về hưởng lễ, cầu mong con cháu mạnh khỏe, đoàn kết và mùa màng thuận lợi. Sau phần lễ, mọi người quây quần ăn uống, trò chuyện, qua đó thắt chặt tình cảm gia đình và nhắc nhở thế hệ trẻ nhớ về cội nguồn.
Lễ đuổi ma hoả “Nhé khố sinh” là nghi lễ truyền thống đặc sắc của người Bố Y ở Mường Khương. Lễ thường được tổ chức vào ngày 2/2 và 1/8 âm lịch hằng năm nhằm xua đuổi điều xấu, phòng chống cháy rừng, hạn hán và cầu mong cuộc sống bình yên cho dân bản. Trong lễ, thầy cúng cùng dân làng thực hiện các nghi thức cúng tế, đi khắp bản làng “đuổi ma”, thu giữ những điều xấu và đưa ra khỏi bản. Kết thúc nghi lễ, mọi người cùng ăn uống, hát múa và nhắc nhở nhau bảo vệ rừng, nguồn nước và môi trường, thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống.
V. Đóng góp:
Dân ca Bố Y được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo QĐ 266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018.