I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Khơ me (Khơ-me Crôm, Khơ-me Hạ, Khơ-me Dưới,..).
Ngôn ngữ: Người Khơ me sử dụng hàng ngày là tiếng Khơ me - một ngôn ngữ thuộc nhóm Môn-Khơ-me trong ngữ hệ Nam Á.
Dân số: Tổng dân số người Khơ me có khoảng trên 1,3 triệu người.
Phân bố dân cư: Cư trú chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tập trung ở các tỉnh Cần Thơ (Sóc Trăng cũ); Vĩnh Long (Trà Vinh cũ); An Giang (gồm cả Kiên Giang cũ); Cà Mau (Bạc Liêu cũ).
Đặc điểm cư trú: Họ sống quần cư trong các phum (chỉ một khu đất gồm 3-8 gia đình nhỏ có quan hệ thân tộc cùng cư trú) và sóc (một đơn vị cư trú, một thiết chế xã hội tự quản truyền thống tương tự như làng của người Việt). Quan hệ huyết thống và hôn nhân là hai mối quan hệ cơ bản trong phum; quan hệ láng giềng, lãnh thổ hòa lẫn với quan hệ họ hàng thân thuộc là quan hệ cơ bản trong sóc và họ có xu hướng sống tập trung.
Nguồn gốc: Nhiều nghiên cứu đã khẳng định người Khơ-me ở nước ta là hậu duệ của các di dân từ Lục Chân Lạp - tiền thân của nhà nước Campuchia ngày nay. Họ di cư sang khu vực này theo nhiều đợt và do nhiều nguyên nhân khác nhau. Cùng với người Việt và người Hoa, người Khơ-me là một trong những nhóm cư dân có mặt sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.
II. Đời sống xã hội:
1.Nghề nghiệp:
Chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước.
Nghề đánh cá,
Nghề dệt, chiếu, đan lát, dệt vải
Nghề làm đường thốt nốt
Nghề làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia dụng, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Họ cũng thực hiện việc trao đổi buôn bán (chủ yếu bán sản phẩm dư thừa và mua nhu yếu phẩm) thông qua các thương lái.
2. Nhà ở truyền thống của người Khơ me:
Trước kia thường ở nhà sàn hoặc nhà đất. Trước khi các vật liệu hiện đại như bê tông cốt thép được du nhập vào Việt Nam, nhà ở của người Khmer thường được xây dựng bằng vật liệu có sẵn tại các địa phương. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer ở Việt Nam sử dụng lá dừa nước để làm vách tường hoặc lợp mái, trong khi người Khmer ở Campuchia thường lợp nhà bằng lá cọ, lá cây thốt nốt hoặc cỏ tranh. Nhà có điều kiện thì cột gỗ kê đá tảng, vách ván gỗ, lợp ngói với quy mô rộng hơn. Nhà sàn ở những khu vực ngập nước thường có 2 phần: trên sàn là gian nhà chính và dưới gầm sàn là chuồng gia súc, dệt vải…. Phần trên thường có không gian trung tâm dành cho việc thờ cúng, sinh hoạt gia đình, tiếp khách; buồng ngủ của các thành viên được phân bố theo vai vế, giới tính (ông bà cha mẹ ở trước, con cháu ở sau; con gái chưa chồng bên trái, con trai bên phải) sắp xếp xung quanh gian sinh hoạt; bên cạnh đó còn có góc trữ lúa hoặc may dệt. Bếp thường nằm ở dưới nhà hoặc ngoài chái hiên, không nằm trong không gian chính của nhà. Sự sắp xếp này có thể khác nhau tùy theo từng gia đình, nhưng con cháu trong nhà luôn được tách biệt theo giới tính và được xếp ở phía sau nhà. Có thể có những thay đổi khác về vị trí so với khu vực trung tâm chính, nhưng gian nhà chính luôn là khu vực quan trọng nhất. Phần không gian mặt đất bên dưới gầm sàn chủ yếu dùng để làm chuồng gia súc như gà vịt, trâu bò,... Đôi khi khu vực dệt vải, làm bếp cũng được bố trí bên dưới nhà.
III. Văn hóa đặc trưng:
1. Trang phục:
Trang phục cổ truyền: Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy) màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Trang phục thường ngày: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai.
2. Văn nghệ dân gian:
Văn nghệ dân gian, người Khmer ở Nam bộ vốn có nền văn hóa nghệ thuật rất độc đáo, đa dạng đã phát triển khá lâu đời, trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống xã hội của bà con dân tộc và luôn được bảo tồn, phát huy. Đáng kể nhất là loại hình văn hóa phi vật thể như nghệ thuật sân khấu rô băm, dù kê và các loại hình múa dân gian như rom vong, rom kbách, sarawan, sa dăm.... Loại hình kịch múa rô băm thường gọi là “yeak rom” ra đời cách nay hàng trăm năm được xem là di sản độc đáo của người Khmer Nam bộ.
3. Phong tục tập quán:
Hôn lễ có 3 lễ: Lễ Sđây Đol Đâng (lễ nói), Lễ Lơng Ma Ha (lễ hỏi) và Lễ Pithi Apea Pìea (lễ cưới) là quan trọng nhất.
Ma chay với người Khơ- me hình thức mai táng chủ yếu là địa táng và hoả táng. Đặc biệt, hình thức địa táng là hình thức phổ biến với hình thức chôn cất một thời gian và lấy phần xương cốt mang đi thiêu để giã cốt.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Lương thực chính của đồng bào Khơ-me ở đồng bằng sông Cửu Long là cơm gạo nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pư làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...). Đặc trưng người Khơ-me có món bún nước lèo (tứksamlo) là một món ăn đặc biệt được đồng bào ưa thích, và không thể thiếu vào ngày mồng một tết ở chùa.
Người Khơ me có 2 lễ lớn trong năm là Tết Chol Chnam Thmay là Tết đón năm mới, và Lễ hội Ok-ang Bok là Lễ cúng trăng, trong lễ có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Với Tết Chol Chnam Thmay là Tết đón năm mới thường được diễn ra vào khoảng giữa tháng 4 Dương lịch. Chôl Chnăm Thmây là lễ hội lớn nhất trong năm của người dân Campuchia và của hơn 1,3 triệu đồng bào dân tộc Khmer Việt Nam. Lễ hội có nhiều nét tương đồng với Tết Bunpimay của Lào, Tết Songkran của Thái Lan, hay Tết Thingyan của Myanmar. Mang ý nghĩa chào đón mùa mưa và mùa màng mới và là lễ hội lớn nhất trong năm. Nên ngày xưa Tết Chôl Chnăm Thmây kéo dài từ 10-15 ngày. Những thập niên gần đây, trong xu thế đơn giản hóa lễ hội nói chung, lễ hội này chỉ còn 3 ngày (chưa kể công việc chuẩn bị trong nhiều ngày trước đó). Hoạt động quan trọng nhất của ngày đầu năm mới đối với người Khmer là Lễ rước Đại lịch (Maha Sangkran). Mọi người tắm gội, mặc quần áo đẹp, đội cỗ lên chùa. Lễ rước diễn ra vào giờ tốt đã được chọn sẵn, bất kể sáng hay chiều. Ngày thứ hai diễn ra lễ dâng cơm và đắp núi cát. Vào ngày thứ ba của Tết Chôl Chnăm Thmây, bà con Khmer tiến hành Lễ tắm tượng Phật và Lễ cầu siêu.
Với Lễ hội Ok-ang Bok là Lễ cúng trăng diễn ra vào rằm tháng 10 âm lịch hàng năm. Người Khmer có truyền thống làm nông nghiệp gần như cả cuộc đời nên Lễ hội Ok Om Bok Sóc Trăng có ý nghĩa rất lớn. Đối với người Khmer, mặt trăng được xem là vị thần có quyền năng ảnh hưởng đến thành quả mùa màng và mang đến những điều tốt đẹp cho họ. Vì thế nên sau khi thu hoạch thành phẩm của mỗi vụ mùa thì người ta lại tiến hành nghi thức cúng tế để tạ ơn thần. Theo nghĩa đó, Lễ hội Ok om bok Sóc Trăng của người Khmer không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc là tạ ơn thần Mặt Trăng đã ưu đãi cho họ mùa màng bội thu, có cơm ăn áo mặc mà còn là dịp cho mọi người cùng nhau giao lưu, gặp gỡ sau quá trình vất vả mưa nắng nơi đồng ruộng. Lễ hội Ok Om Bok Sóc Trăng diễn ra với nhiều hoạt động hấp dẫn như: Lễ Cúng Trăng, thả đèn gió, đèn nước,.. Nếu Lễ hội Ok Om Bok Sóc Trăng là một nghi thức để tạ ơn vị thần Mặt trăng thì phần Hội Đua ghe ngo được tổ chức là để đưa tiễn và tạ ơn thần Nước cũng góp công giúp mùa màng bội thu. Song song đó, hội đua ghe Ngo mang tính đại chúng rất cao và thể hiện sự đoàn kết thông qua rất nhiều người đến tham gia. Các cuộc đua ghe thường được diễn ra trong vòng 3 - 4 giờ đồng hồ trong tiếng reo hò, cổ vũ nhiệt tình của rất nhiều người xem hội. Trong thời gian diễn ra Lễ hội Ok Om Bok Sóc Trăng ở nhiều nơi còn diễn ra các hoạt động nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp, thể thao, hội chợ hay diễn xướng dân gian truyền thống rất náo nhiệt thu hút nhiều người đến chung vui.
V. Đóng góp:
Giá trị cốt lõi của người Khơ me đối với đất nước thể hiện ở tinh thần yêu nước, gắn bó với quê hương. Họ đóng góp cho đất nước bằng lao động cần cù, gắn bó với ruộng nương và bảo tồn các di sản văn hóa độc đáo từ các điệu múa dân gian đến nền ẩm thực phong phú góp phần làm phong phú bản sắc dân tộc Việt Nam. Những giá trị ấy tạo nên một cộng đồng bền vững, luôn hướng về sự ổn định và phát triển chung của quốc gia. Đặc biệt hơn, Lễ hội Ok om bok Sóc Trăng còn là niềm tự hào của dân tộc Khmer và người bản địa Sóc Trăng vì vào năm 2015 hoạt động này đã được chứng nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.