I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Mảng.
Tên gọi khác: Mảng Ư, Xá Mảng, Niểng O, Xá Bá O.
Ngôn ngữ: Người dân tộc Mảng có Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam - Á). Nhiều người Mảng biết tiếng Thái.
Dân số: Khoảng 4.650 người.
Phân bố dân cư: Tập trung ở tỉnh Lai Châu, trải dài trên vùng biên giới phía bắc, giáp ranh với Trung Quốc.
Đặc điểm cư trú: Người Mảng sống theo tập tính bản làng.
II. Đời sống xã hội:
1.Nguồn gốc: Xưa nay vùng Nặm Ban (Dum Bai) thuộc xã Nặm Ban, huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu vẫn được gọi là "quê hương" của người Mảng. Nhiều truyền thuyết, truyện kể còn lưu truyền cho đến ngày nay giúp chúng ta có thể nhận ra người Mảng là một trong những dân cư bản địa ở vùng Tây Bắc.
2. Nghề nghiệp:
Sản xuất nông nghiệp nương rẫy là phương thức sinh sống chủ yếu của người Mảng.
Trước đây người Mảng chăn nuôi tiểu gia súc, sau này là đại gia súc.
Nghề đan lát đặc biệt phát triển, đạt đến trình độ tinh xảo, trong khi nghề dệt không phát triển; các sản phẩm đan lát chủ yếu đem trao đổi với người Thái để lấy các sản phẩm may mặc. Ngoài ra, nghề khâu nón cũng rất phát triển, dùng để trao đổi hoặc bán cho người Thái.
3. Nhà ở: Nhà sàn, gỗ tạp, kỹ thuật thô sơ. Mặc dù nhà người Mảng rất tạm bợ, nhưng từ khâu chọn đất, san nền, dựng cột cho đến lợp đều phải nhờ thầy bói xem ngày, giờ rồi mới tiến hành dựng nhà.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục:
Trang phục của phụ nữ Mảng là áo xẻ nách, cổ tròn, cài khuy trước ngực, váy dài đến mắt cá chân, khăn đầu màu trắng. Ngoài ra còn có “Tà xịa”, là mảnh vải dài, màu trắng, khoác chéo qua vai và nách với thắt lưng màu đen hoặc nâu.
Với nam giới thì đơn giản hơn, trang phục truyền thống là áo cánh ngắn, cổ đứng, cài khuy trước ngực, quần dài đen, ống rộng, khăn đầu màu trắng và thắt lưng màu đen hoặc nâu.
2. Văn nghệ dân gian:
Làn điệu dân ca “xoỏng” được nhiều người biết và ưa thích.
Các truyện dã sử, truyện kể về lịch sử dân tộc thường được người già kể say sưa. Ngày nay, người Mảng còn lưu giữ truyền thuyết kể về vùng đất tổ của mình đó là Muăng Buăng, một địa điểm trên sườn núi thuộc xã Nậm Ban, huyện Sìn Hồ (nay thuộc huyện Nậm Nhùn).
3. Phong tục tập quán:
Tục xăm mặt: Trước kia cả phụ nữ và đàn ông Mảng đều phải xăm mặt O ăm (còn gọi là xăm mồm hay xăm cằm). Đây là nghi lễ thành đinh bắt buộc khi con trai, con gái đến tuổi trưởng thành (con trai từ 16 - 18 tuổi, con gái từ 15 - 16 tuổi), với mục đích chính là được cộng đồng công nhận là thành viên chính thức. Nhờ có hình xăm trên mặt mà sau khi chết đi, tổ tiên ở trên trời mới nhận ra là người trong cùng dòng họ và mới cho hồn trú ngụ cùng.
Ma chay: Tang lễ của người Mảng gồm nhiều nghi thức phức tạp, từ khâm liệm cho đến khi chôn cất. Xưa, quan tài chủ yếu dùng vỏ cây hoặc tre ghép. Sau này, người ta dùng thân cây khoét rỗng hay dùng hòm ván gỗ.
Thờ cúng: Ma nhà được cúng vào dịp tết hoặc khi trong nhà có người đau ốm. Người Mảng tin có nhiều ma, trong đó ma nhà có vị trí đặc biệt quan trọng. Bên cạnh đó họ cũng thờ ma Ðẳm- tổ tiên, dòng họ.
Lễ tết: Ngoài tết Nguyên đán ra, người Mảng ăn tết Cơm mới sau vụ gặt tháng 10 âm lịch. Hàng năm, dân bản còn cúng ma bản và ma nhà để yêu cầu yên. Ðặc biệt ở họ tồn tại hàng loạt nghi lễ liên quan đến nông nghiệp: lễ gieo nương; cúng hồn lúa, mẹ lúa; cúng sau vụ thu hoạch…
4. Nhà ở:
Mặc dù nhà người Mảng rất tạm bợ, nhưng từ khâu chọn đất, san nền, dựng cột cho đến lợp đều phải nhờ thầy bói xem ngày, giờ rồi mới tiến hành dựng nhà. Lễ này gồm nhiều đặc trưng nghi lễ phức tạp thể hiện đặc trưng tộc người.
IV. Ẩm thực lễ hội:
Ẩm thực: Người Mảng có truyền thống ăn xôi nếp. Xôi nếp được đồ trên ninh, chín dỡ ra rồi cho vào cái cơ đựng cơm đan bằng tre mây. Cơi đựng cơm được đan tròn có nắp đậy và chân đế cao để cách ly giữa đáy và bề mặt đặt giỏ. Người ta sử dụng cơi đựng xôi trong các bữa ăn ở nhà hay trên nương. Khi ăn, cơi để cạnh mâm, dùng tay bốc xôi trong cơi, nắm lại thành nắm nhỏ chấm vào thức ăn. Người Mảng ăn 2 bữa (trưa-tối), ngô là lương thực chính, ngô trộn sắn hoặc trộn với ít gạo đồ lên. Lá sắn non đồ muối là thức ăn gần như quanh năm của người Mảng. Họ ưa hút thuốc lào, uống rượu trắng.
Lễ ăn cơm mới “tri xả lẳm mế” của người Mảng là nghi lễ nhằm cảm ơn tổ tiên, thánh thần mang lại mùa màng bội thu, đồng thời “động viên” hồn của các thành viên trong nhà hãy yên tâm ở lại vì đã có lúa mới. Sau khi gặt lúa mới xong và cất vào kho thóc trên nương, người Mảng chọn ngày tốt là ngày con Dê và ngày con Ngựa để “ma lảm” đi lấy lúa về ăn cơm mới. Ma lảm là mẹ lúa, bà chủ trong gia đình. Đến ngày đã chọn, ma lảm phải tắm gội, thay quần áo và chải tóc gọn gàng, rồi lên lấy lúa ở lán về giã thành gạo và nấu ăn. Trong bữa ăn cơm mới các thành viên của gia đình chúc mùa màng bội thu, người chủ nhà khuyên bảo con cháu chăm chỉ làm ăn để có cuộc sống tốt hơn. Ông chủ nhà nói xong, cả nhà bắt đầu ăn cơm. Những người tham dự bữa cơm này toàn là người trong gia đình, không được cho người ngoài vào ăn cùng, vì sợ hồn lúa theo người đó.
V. Đóng góp:
Dân tộc Mảng tuy ít người nhưng có nhiều đóng góp quan trọng. Ngày nay, dân tộc Mảng tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, lao động sản xuất, giữ rừng, giữ biên giới, xây dựng quốc phòng – an ninh địa phương. Đồng thời, họ giữ gìn bản sắc văn hóa và sống đoàn kết với các dân tộc khác, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.