I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Rơ Măm
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Hiện đã sử dụng thành thạo tiếng nói của nhiều dân tộc trong đó có tiếng phổ thông.
Dân số: Khoảng 639 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).
Phân bố dân cư: Tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 88,4%, một số làng với dân số ít ỏi ở nơi tiếp giáp Việt Nam - Campuchia, thuộc huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.
Nguồn gốc: Đã có mặt ở Việt Nam từ lâu.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp: Người Rơ Măm sinh sống bằng nghề làm rẫy, lúa nếp là lương thực chủ yếu. Khi gieo trồng, đàn ông cầm hai gậy nhọn chọc lỗ, đàn bà theo sau bỏ hạt giống và lấp đất, săn bắt và hái lượm vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Trong số các nghề phụ gia đình, nghề dệt vải phát triển nhất nhưng ngày nay đã suy giảm vì đồng bào đã quen dùng các loại vải công nghiệp bán trên thị trường.
Tổ chức xã hội-gia đình: xã hội của người Rơ-măm hiện ở giai đoạn quá độ từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục:
Có phong cách riêng trong tạo dáng và trang trí trang phục, đặc biệt là trang phục nữ. Người Rơ Măm có tục "cà răng, căng tai". Đến tuổi trưởng thành, trai gái đều cưa cụt 4 hay 6 răng cửa hàm trên. Hiện nay lớp trẻ đã bỏ tục này. Phụ nữ thích đeo khuyên, hoa tai, vòng tay và đeo những chuỗi cườm ở cổ.
Trang phục nữ: Phụ nữ thường để tóc dài búi sau gáy. Áo là loại cộc tay vai thẳng (không khoét cổ như Brâu), thân thẳng, hình dáng gần vuông giống áo Brâu; màu sáng (màu nguyên của sợi bông) các đường viền cổ và cửa tay cộc màu đỏ. Gấu áo có dải băng trang trí (cao 1/4 thân áo) bằng màu đỏ, hoa văn hình học. Váy là loại váy hở màu trắng nguyên sợi bông. Bốn mép váy và giữa thân váy có các đường viền hoa văn màu đỏ với mô típ hoa văn hình học và sọc ngang. Họ thường đeo hoa tai vòng to, nặng xệ xuống. Người khá giả đeo hoa tai bằng ngà voi, người nghèo đeo hoa tai bằng gỗ. Vòng tay là loại bằng đồng nhiều xoắn.
Trang phục nam: Nam cắt tóc ngắn ở trần, đóng khố. Vạt trước khố dài tới gối, vạt sau dài tới ống chân. Khố thường dùng màu trắng nguyên của vải mộc. Lưng được xăm hoa văn kín, nhất là những người cao tuổi. Trai gái đến tuổi thành niên phải cưa răng ở hàm trên (4 hoặc 6 chiếc).
2. Văn nghệ dân gian:
Cồng chiêng: Nhạc cụ thiêng liêng, gắn với đời sống tinh thần và sử dụng trong các lễ hội, nghi thức quan trọng.
Múa xoang: Loại hình trình diễn dân gian phổ biến, thường xuất hiện trong lễ hội và sinh hoạt cộng đồng, tạo sự vui tươi, gắn kết.
Dân ca – sử thi: Gồm hát ru, hát giao duyên và các sử thi truyền miệng, phản ánh đời sống và lịch sử cộng đồng Rơ Măm.
3. Phong tục - tập quán:
Cưới xin: Người Rơ Măm làm hai bước: ăn hỏi và cưới. Lễ cưới đơn giản, chủ yếu là bữa ăn cộng cảm của làng. Hôn nhân chuyển dần sang phụ hệ. Sau cưới, đôi trẻ sống nhà vợ 4–5 năm rồi về nhà chồng hoặc ở luân phiên. Ly hôn rất hiếm.
Ma chay: Khi có người chết, họ đánh trống báo tin. Thi hài đặt trước nhà và chôn sau 1–2 ngày. Mộ xếp theo hàng, không quay mặt vào làng; đôi khi chôn chung người thân. Lễ bỏ mả có người đeo mặt nạ múa và đánh trống, rồi treo mặt nạ trên nhà mồ.
IV. Ẩm thực lễ hội:
Cá gỏi kiến vàng là món ăn được chế biến bởi hai nguyên liệu chính là cá và kiến vàng. Đầu tiên là phải chọn đúng loại cá. Người dân ở đây thường ra sông Sa Thầy bắt loài cá trắng để về chế biến. Nếu không có cá trắng thì có thể chế biến bằng cá trắm cỏ, cá diêu hồng... Để làm ra món cá gỏi kiến vàng đúng chuẩn cần rất nhiều công đoạn và người chế biến phải thật sự tỉ mỉ. Cá bắt về sẽ được lọc xương, rửa sạch, băm nhỏ thịt cá rồi vắt nước để khử mùi tanh, sau đó ướp cùng với các loại gia vị, thêm một chút tiêu rừng và thính gạo. Đối với kiến vàng, người dân nơi đây sẽ tìm những tổ kiến non, có số lượng trứng lớn để làm tăng thêm hương vị ngọt của cá; vị ngậy ngậy, chua chua của trứng kiến, khi chế biến sẽ thơm hơn, ăn bùi và béo ngậy. Sau khi sơ chế cá suối, người dân tiếp tục đi bắt kiến vàng, rồi thả vào cá đã băm nhuyễn để kiến tiết ra chất axit làm chín cá. Khi lấy tổ kiến xuống, trước tiên sẽ đặt một chậu nước ở bên dưới rồi lấy cán dao gõ nhẹ cho kiến rơi hết xuống chậu; tiếp đến, nhẹ nhàng tách đôi tổ kiến và lấy trứng ra để riêng. Trứng kiến vàng thường có mầu trắng đục, to gần bằng hạt gạo và có mùi thơm nhẹ. Cuối cùng, trứng kiến được làm nhuyễn ra rồi đem phơi dưới nắng.
Công đoạn cuối cùng là nêm nếm gia vị cho cá và kiến. Các loại gia vị cần dùng là muối, hạt tiêu, ớt xanh và thính được làm từ gạo. Sau khi chuẩn bị đầy đủ gia vị thì mới bắt đầu cho vào hỗn hợp cá, kiến, trứng kiến một lượng vừa phải rồi trộn thật đều tay đến khi ngửi thấy mùi thơm phảng phất tỏa ra.
V. Đóng góp:
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng dân quân dân tộc Rơ Măm tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, cần cù, chịu khó trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội; chú trọng xây dựng lực lượng dân quân vững mạnh, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ quốc phòng, quân sự ở địa phương.
Do nhiều nguyên nhân, thời gian qua hệ thống giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Rơ Măm đứng trước nguy cơ thất truyền. Tuy nhiên nhờ sự vận động tích cực nên dân tộc Rơ Măm đã lưu giữ được 34 bộ cồng chiêng quý; duy trì được hệ thống lễ hội như thổi tai, ma chay, bỏ mả, lễ phát rẫy, trỉa lúa, mở kho lúa... Các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian như cồng chiêng, xoang, hát ru, hát giao duyên, sử thi và nghề truyền thống đan lát… cũng được khôi phục. Đặc biệt, làng đã phục dựng được một số lễ hội độc đáo như lễ mừng lúa mới, lễ mừng nhà rông mới.