I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Lự (hay còn gọi là Lừ, Thay hoặc Thay Lừ, Phù Lừ,...)
Ngôn ngữ: Tiếng nói chính thức của người Lự là tiếng Lự, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, họ ngôn ngữ Ka-Đai
Dân số: khoảng 6.757 người
Phân bố dân cư: tập trung chủ yếu tại một số huyện miền núi của tình Lai Châu và Điện Biên.
Đặc điểm cư trú: cư trú thành cộng đồng bản tương đối tập trung và biệt lập ở vùng thấp ven chân núi và các thung lũng nhỏ.
Nguồn gốc: họ có nguồn gốc từ khu vực tây nam Trung Quốc, chủ yếu là từ tỉnh Vân Nam, di chuyển vào Việt Nam trước và sau thiên niên kỷ I sau Công nguyên. Họ là một trong những cộng đồng sớm có mặt ở Tây Bắc và đã đạt được một trình độ phát triển nhất định ở khu vực này.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp: Người Lự sinh sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Ngoài ra, họ còn nổi tiếng khéo tay trong dệt vải và làm đồ trang sức. Đặc biệt, nghề đan khá phổ biến. Họ đan những đồ dùng sinh hoạt gia đình như rổ, rá, giỏ đựng rau,... Những sản phẩm này chủ yếu đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp, chỉ một số ít gia đình sử dụng những sản phẩm này làm hàng hóa để trao đổi ngoài cộng đồng.
Quan niệm, tín ngưỡng:
Người Lự quan niệm vũ trụ có ba tầng: Mường Phạ (mường trời) - tầng cao nhất của thế giới các vị Then, nơi trú ngụ của tổ tiên các dòng họ (đẳm pang); Mường Piêng - tầng mặt đất, thế giới của con người và muôn vật; Mường Lúm (tầng dưới cùng) - thế giới của người lùn nằm sâu trong lòng đất. Mường trời hình tròn úp lên mặt đất, do Then lớn (then luông) chỉ huy các then đúc, then làm mưa, then ánh sáng, then xử tội... cai quản.
Nhà ở: Người Lự có truyền thống ở nhà sàn (hương). Nhà của họ có hai mái, lợp cỏ gianh, mái phía sau và phía trước kéo dài xuống che kín hàng hiên sàn, đồng thời che cầu thang. Khác với người Thái, Lào, nhà người Lự có một cửa ra vào, luôn hướng về phía tây bắc và một cửa ra sân phơi.
III. Văn hoá đặc trưng:
1.Trang phục:
Trang phục nữ:
Phụ nữ Lự vẫn mặc bộ trang phục truyền thống được dệt may thủ công, thêu hoa văn tinh xảo. Từ khâu trồng bông, cán bông, xe sợi đến khi thành hình tấm áo, manh quần đều do tay người phụ nữ Lự đảm nhiệm. Bộ nữ phục Lự gồm: khăn, áo, váy, thắt lưng và các đồ trang sức đi kèm như hoa tai, vòng cổ, vòng tay, xà tích, túi…
Để trang điểm thêm, trên mỗi khăn, họ đều đính những dây cườm màu vàng có kết những tua bông ngũ sắc ở đầu dây. Đối với các cô gái trẻ chưa có chồng, trong những dịp lễ, tết, hội hè, cưới xin họ còn nối thêm vào đầu khăn một dải kim loại màu trắng và gắn thêm nhiều tua bông vắt theo dải khăn phía sau đầu.
Trang phục nam: Đàn ông Lự thường đeo gươm, không những để tự vệ mà còn là một cách trang trí. Trước đây, đàn ông Lự cũng có tục để râu dài, xăm mình, xâu tai, nhuộm răng đen, ngày nay họ đã bỏ thói quen này.
2. Văn nghệ:
Hát Lự (Khắp Lử) là cách con gái dùng một khăn vải màu đỏ che mặt hát theo tiếng sáo đôi do con trai thổi đệm. Xưa, vào lúc màn đêm buông xuống, các đôi nam nữ ngồi trên chiếu cói trải giữa sân say sưa hát, thổi sáo cùng nhau đến tận nửa đêm.
3. Phong tục - tập quán:
Hôn nhân: Người Lự khuyến khích hôn nhân ngược chiều với câu tục ngữ "dao khâu đồng, hôn nhân trở về lối cũ". Em lấy vợ, anh em của vợ thuộc bàng hệ chéo hai, ba đời lại lấy chị em gái của chồng. Không có trường hợp ép duyên. Theo tục ở rể 3 năm sau đó về làm dâu 2 năm thì đôi vợ chồng được phép ra ở riêng để thành đơn vị gia đình hạt nhân sống trong nếp nhà sàn riêng của mình. Có ba bước cưới xin: "Ăn giáp tối": lễ nhập phòng, "Ăn mới": tổ chức ăn uống và nhà trai dâng lễ vật cho nhà gái trong đó phải có một thanh gươm’ "Ðón dâu".
Ma chay: Khi có người chết, người trong họ nội đội khăn trắng để tang. Mổ một trâu đen (không trắng) để cúng tiễn hồn về cõi hư vô. Quàn thi thể ở nhà 3 ngày rồi thuê 8 người ngoài họ để khiêng ra rừng ma. Chôn không đắp thành mồ. Những người đi đưa đám trước khi lên nhà phải tắm rửa sạch sẽ. Bà con gần gũi thuộc họ nội của người chết phải kiêng 3 ngày không lao động sản xuất.
IV. Lễ hội đặc trưng:
Tên lễ hội: Lễ hội Căm Nung (lễ cúng rừng)
Thời gian diễn ra: Lễ Căm Nung được người Lự tổ chức 2 lần trong năm, một lần vào ngày 3 - 5/3 âm lịch, khi bắt đầu vào mùa vụ, lần còn lại là khi mùa màng đã xong vào ngày 6 - 8/6 (theo âm lịch).
Có ý nghĩa như thế nào: Với quan niệm núi rừng là linh hồn của vạn vật, bảo vệ, che chở cho con người tồn tại và phát triển, là nơi trú ngụ của các đấng siêu nhiên, người Lự tổ chức lễ cúng rừng để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bản làng yên bình, đời sống người dân ấm no, qua đó khẳng định sự hòa hợp của cộng đồng với thiên nhiên. Đồng thời, thông qua việc phân công công việc tổ chức lễ hội, mọi người thấy được vị trí của mình trong cộng đồng, cùng nhau làm việc, tăng tính kết nối trong cộng đồng thôn bản.
V. Đóng góp:
Ngày nay, lực lượng dân quân dân tộc Lự đang từng bước được củng cố, phát triển, trở thành lực lượng quan trọng góp phần tích cực cùng các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.