I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Cống.
Tên tự gọi: Xắm khống, Mông Nhé, Xá Xeng, Phuy A.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng) gần hơn với tiếng Miến, cùng nhóm với các tiếng La Hủ, Phù Lá, Si La... Họ quen sử dụng tiếng Thái trong giao dịch hàng ngày.
Dân số: khoảng 2.729 người.
Phân bố dân cư: Sinh sống ở khu vực Tây Bắc, chủ yếu tại Lai Châu và Điện Biên.
Đặc điểm cư trú: Tập trung trong các làng bản có quy mô vừa và lớn thường sống gần các con sông lớn như sông Đà.
Nguồn gốc: Người Cống có nguồn gốc di cư trực tiếp từ Lào sang.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp:
Trồng trọt trên nương rẫy và canh tác ruộng nước, chăn nuôi bò lợn, nuôi cá, khai thác sản vật tự nhiên như rau củ quả, dược liệu…
Người Cống còn có một số nghề như nấu rượu, đan lát…
Tổ chức xã hội - gia đình:
Cấu trúc gia đình phụ hệ. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình cũng như xã hội.
Nhà ở truyền thống của người Cống thường ở nhà sàn, nhà nào cũng ngăn ra thành 3-4 gian, gian giữa là nơi tiếp khách, chỉ có một cửa ra vào ở đầu hồi và một cửa sổ ở gian giữa.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục:
Trang phục của phụ nữ Cống gồm: áo, váy, dây thắt lưng, yếm, khăn đội đầu và một số đồ trang sức. Áo ngắn may bằng vải trắng hoặc màu chàm, tay áo được nối dài, mở ngực, cổ áo liền với nẹp ngực, áo không xẻ tà. Cổ áo là một dải vải đen kéo dài từ vạt áo bên phải chạy vòng qua cổ sang hết vạt áo bên trái. Dọc theo chiều dài của nẹp áo có đính đôi dây bằng sợi bông se lại hình vặn thừng để làm dây buộc.
Trang phục nam: Trang phục nam giới người Cống gồm có khăn, áo, quần may bằng vải, nhuộm chàm không trang trí.
2. Văn nghệ dân gian
Văn nghệ dân gian Cống khá phong phú. Với các làn điệu dân ca sâu lắng người ta hát vào dịp lễ hội vui chung, đặc biệt là dịp cưới hỏi. Họ còn có các điệu múa truyền thống như múa "pê lêm giao" (múa đón mừng năm mới) và điệu đuổi thú trong Tết Ngô.
3. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Người Cống thực hiện hôn nhân một vợ một chồng, không có đa thê hay ly dị. Tục ở rể kéo dài 8–12 năm, sau đó mới làm lễ đón dâu về nhà chồng. Ngày cưới có tục vẩy nước tro cầu may.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, phải kiêng kỵ nhiều điều; người Cống có kinh nghiệm dùng lá thuốc chăm sóc sản phụ.
Ma chay: Khi có người mất, mời thầy mo làm lễ, chọn ngày chôn kỹ lưỡng; trước khi chôn có cúng cơm và múa nghi lễ. Sau 12 ngày mới lập bàn thờ. Con để tang cha mẹ bằng cách cạo đầu (nam), cắt tóc mai (nữ) và đội khăn tang đến lễ cúng cơm mới.
Thờ cúng: Người Cống thờ tổ tiên theo phụ hệ, con trai ra ở riêng lập bàn thờ riêng; lễ vật chỉ có gạo, nước và gà. Tháng ba âm lịch có lễ cúng bản trước gieo hạt và kiêng người lạ. Trước khi xong tra hạt, gia đình cúng trên nương để cầu mùa tốt, tránh chim thú phá hoại.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Người Cống ăn cơm, xôi, cháo; thịt được chế biến bằng luộc, nướng, nấu canh, sau này có xào, hấp. Họ ăn thêm thủy sản và rau rừng. Có món Cha khả cha vàng (tiết lợn nấu lá thuốc) dùng chữa đau bụng. Họ biết dự trữ thực phẩm như cá mắm, cá khô, măng chua khô; thường uống nước lá, rễ cây rừng làm thuốc và trước kia có trồng, hút thuốc lá tự cuốn.
Lễ hội đặc trưng, nổi bật nhất của người Cống là tết Hoa mào gà (còn gọi là Mền loóng phạt ái) thường diễn ra vào cuối tháng 11, đầu tháng 12 Dương lịch, gồm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ thực hiện các nghi lễ cúng tế. Sau phần lễ là phần hội, nơi những điệu múa, lời ca, tiếng trống, tiếng chiêng vang lên rộn ràng, tạo nên bầu không khí vui tươi, gắn kết cộng đồng mang nghĩa đánh dấu kết thúc một năm cũ mở đầu cho một năm mới tốt lành.
V. Đóng góp:
Hiện nay, văn hóa của người Cống có nguy cơ mai một văn hóa do chịu ảnh hưởng của văn hóa Thái, Việt. Văn hóa dân tộc Cống hiện nay đang có sự pha trộn của văn hóa các dân tộc nhóm Tạng - Miến, vì vậy trang phục cũng bị ảnh hưởng các dân tộc khác (Lào, Thái đen,…). Vậy nên, cần bảo tồn khẩn cấp tiếng mẹ đẻ, tổ chức các đội văn nghệ người Cống để phát huy giá trị văn hóa truyền thống.