I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Laha tự gọi mình là La Ha, Klá và Phlạo và được các tộc người khác gọi bằng các tên khác nhau như: Xá Khắc, Phlắc, Khlá Xá Cha, Xá Bung, Pụa,...
Ngôn ngữ: tiếng La Ha.
Dân số: khoảng trên 10.000 người.
Phân bố dân cư: chủ yếu ở vùng Tây Bắc Việt Nam, chủ yếu ở tỉnh Sơn La.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp:
Người La Ha có 2 nhóm là La Ha Ủng - người La Ha ở nước (làm ruộng nước) và Khlá Phlạo hay La Ha Plạo - người La Ha ở cạn (làm nương rẫy).
Các nghề thủ công như rèn, đan lát chỉ đáp ứng nhu cầu trong gia đình, làng bản. Trước đây, nghề dệt tương đối phát triển và kỹ thuật dệt của họ khá tinh xảo nhưng nay đã mai một nhiều. Hiện nay, giao thương mua bán vẫn nhỏ lẻ chủ yếu tại bản hoặc các chợ huyện.
Tổ chức xã hội - gia đình: chế độ phụ quyền.
Nhà ở:
Trong các thôn bản người La Ha vẫn tồn tại 2 kiểu nhà sàn khác nhau về cấu trúc, kích thước và tính kiên cố. Loại nhà sàn tạm vẫn được dựng bằng cột gỗ chôn, có 2 gian và 2 chái. Các gian này không có vách ngăn, một gian làm bếp và một gian để ngủ. Các gia đình phải thờ cúng thì có thêm cột thờ dựng ở gian bếp. So với nhà sàn tạm, kiểu nhà sàn tương đối kiên cố khá phổ biến ở các bản của người La Ha.
III. Văn hoá đặc trưng:
Trang phục:
Trang phục truyền thống nữ thì Phụ nữ La Ha thường mặc áo cóm có hàng khuy bạc, váy màu đen, có cạp và thắt lưng màu xanh. Họ đội khăn piêu có thêu hoa văn và búi tóc ngược lên đỉnh đầu khi đã lập gia đình giống như phụ nữ Thái. Trước đây, nữ giới La Ha còn đeo các loại trang sức như: dây xà tích, hoa tai bạc, vòng cổ, vòng tay, trâm…
Trang phục của nam giới La Ha khá đơn giản gồm áo cánh ngắn, quần lá tọa và khăn đội đầu, tất cả đều được nhuộm chàm. Trẻ em La Ha không có trang phục riêng. Chất liệu chủ đạo trong trang phục truyền thống của người La Ha là vải sợi bông do chính đồng bào người Laha tự trồng bông, kéo sợi và dệt thành.
Văn nghệ dân gian: người La Ha có nghệ thuật diễn xướng dân gian khá phong phú với các điệu múa, trò chơi và trò diễn dân gian. Các điệu múa phổ biến trong các dịp lễ hội như: múa tăng bu (múa dỗ ống), múa khăn, múa lật…
Phong tục - tập quán:
Hôn nhân: quan hệ hôn nhân của người La Ha là ngoại hôn dòng họ và theo nguyên tắc thuận chiều (không có quan hệ hôn nhân ngược lại với thông gia). Trai gái được tự do tìm hiểu. Sau lễ cưới thứ nhất, chú rể phải ở rể bên nhà gái từ ba năm trở lên hoặc tùy theo thỏa thuận của hai bên. Hết hạn ở rể, người La Ha sẽ tổ chức lễ cưới chính thức (thu mà phu), chú rể đón dâu về ở hẳn nhà mình.
Ma chay: người La Ha có tục địa táng nghĩa là thi hài được khiêng ra đến mộ mới bỏ vào quan tài và hạ huyệt. Thi hài của bố được đưa qua cửa sau gian thờ, thi hài của mẹ được đưa qua cửa bếp. Chôn cất xong, người ta dựng trên mộ một ngôi nhà mồ và đặt trên đó những thứ được chia cho người chết: quần, áo,.. Tối đó, gia đình tổ chức lễ cúng tiễn biệt hồn người chết đến thế giới bên kia.
Ngoài ra, Người La Ha có rất nhiều kiêng kỵ trong đời sống hằng ngày như không được tự do đi lại hay chơi đùa ở nơi thờ cúng ma, con dâu, con rể không được vào gian cuối, nơi ngủ của ông bà, bố mẹ, nơi thờ cúng, đặc biệt là vào những ngày cúng lễ và cửa sổ ma nằm ở phía đối diện với gian thờ. Họ không bao giờ xâm phạm đến rừng ma (nơi chôn người chết của cả bản). Cụ thể là không được khai thác những cây đã đổ, không được săn bắn và thả gia súc,... trong rừng ma.
IV. Ẩm thực, lễ hội đặc trưng:
Ẩm thực:
Lương thực chính của người La Ha là ngô và gạo nếp, sắn và khoai sọ. Rượu là đồ uống được đồng bào ưa chuộng, nhất là trong các dịp tiếp khách, lễ hội, cưới xin, ma chay. Đồng bào thường sử dụng rượu nấu để trong chai hoặc rượu cần ủ trong chum. Gia đình nào cũng ủ sẵn vài chum rượu cần trong nhà để mời nhau những khi rỗi rãi, vui vẻ hay vào những dịp lễ hội.
Lễ hội: Lễ hội của người La Ha bao gồm Lễ hội Pang A và Lễ hội dâng hoa măng, là những lễ hội truyền thống đặc sắc, gắn liền với đời sống nông nghiệp và tín ngưỡng của dân tộc này.
Lễ hội Pang A:
Diễn ra vào tháng 4 hằng năm. Trong lễ cúng không thiếu cây xặng bók. Cây xăng bók được dựng ở giữa nhà, bao gồm cây tre, chuối và cây mía buộc vào nhau, cao đến nóc nhà. Trên xăng bók được cài trang trí dải hoa vải, hình con ve, quả còn, chim cu, hoa ban, hoa mạ, kiếm, lá chắn, cày, bừa làm bằng gỗ... Lễ cúng có hai nội dung, cúng hồn chủ nhà để hồn vía không bị thất lạc và cúng mời thần linh về dự lễ (đây là lễ cúng chính). Ở phần hội, mọi người múa tăng bu trong âm thanh rộn ràng, sôi động và lần lượt cho các con nuôi vào dâng lễ vật cho thầy cúng. Trong lúc thầy cúng làm lễ, các con nuôi cùng mọi người đến dự quàng khăn múa trên cổ, hai tay cầm hai đầu khăn đi xung quanh cây xăng bók theo nhịp gõ của tăng bu. Lễ hội kết thúc bằng việc dâng mâm lễ tiễn đưa thần linh về trời. Sau bữa cơm chiều, những người tham gia tiếp tục thi uống rượu cần và múa tăng bu cho đến sáng. được tổ chức để cầu cho mùa màng tươi tốt, sức khỏe và may mắn.
Lễ hội dâng hoa măng:
Được tổ chức trước ngày rằm hàng tháng trong 3 tháng mùa xuân, khi việc trên nương chưa nhiều, khi cây măng đắng đội đất mọc lên, khi cây mạ rế trong rừng nở hoa vàng đỏ, để con cháu, bà con bản dưới mường trên gặp nhau giao lưu văn hóa, văn nghệ, trao đổi kinh nghiệm chữa trị bệnh. Lễ hội nhằm tỏ lòng cảm tạ, tri ân thầy lang có công vì sức khỏe cộng đồng, tổng kết khả năng cứu chữa bệnh tật của thầy lang, rồi truyền lại cách thờ cúng tổ tiên cho con cháu.
V. Đóng góp:
Người La Ha là một trong 54 đồng bào dân tộc Việt Nam. Dân tộc La Ha, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa không chỉ giữ gìn bản sắc La Ha mà còn làm phong phú thêm kho tàng văn hóa chung của các dân tộc Việt Nam, đồng thời thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng.