I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Mnông.
Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh…
Dân số: Khoảng 127.334 người.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Phân bố dân cư: Địa bàn tụ cư truyền thống của người Mnông là khu vực tây nam Tây Nguyên (thuộc hai tỉnh Đắk Nông, Bình Phước và tây nam các tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng).
Đặc điểm cư trú: Người M'nông quần cư thành Bon (làng).
Nguồn gốc: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.
II. Đời sống xã hội:
1.Nghề nghiệp:
Người M'nông làm rẫy là chính.
Nuôi trâu, chó, dê, lợn, gà và một số nhà nuôi cả voi. Người Bu-Nông ở Bản Đôn có nghề săn voi và thuần dưỡng voi nổi tiếng.
Nghề thủ công của người M'Nông có dệt vải sợi bông do phụ nữ đảm nhiệm và đan lát các dụng cụ như gùi, giỏ, mùng... do đàn ông làm.
2. Nhà ở:
Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương, người M'nông xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn thấp. Riêng nhóm M'nông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê-đê. Nổi bật nhất là nhà dài người M'Nông về kết cấu tương tự như nhà dài người Ê Đê nhưng đơn giản hơn và không có các hoa văn trang trí truyền thống như ở cầu thang và cột, kèo như nhà dài người Ê đê. Ngôi nhà trệt truyền thống của người M’nông trải qua nhiều thế hệ, dài tối thiểu 30m, có khi dài đến 100m, nên thường được gọi là nhà dài. Mỗi khi trong gia đình có thêm người cưới vợ gả chồng, tách thành hộ riêng, ngôi nhà sẽ được nới dài ra để cùng chung sống. Nhà dài có thể là nơi sinh sống của 3 - 7 hộ. Ngôi nhà với hai hàng cột gỗ làm từ các loại cây quý, chắc chắn, hình trụ tròn, to bằng vòng tay một người ôm. Để làm được một nhà dài phải vào rừng lấy vật liệu gỗ, tre nứa, lồ ô, cỏ tranh và phải mất cả năm trời mới làm xong. Mỗi hộ đều có kho lúa, tài sản, bếp nấu ăn riêng biệt. Mỗi gia đình nhỏ thường có 2 bếp lửa. Ngay cửa ra vào có một bếp lửa dành cho đàn ông và khách. Bếp lửa phía dưới kho lúa dành cho phụ nữ nấu ăn.
3. Tổ chức gia đình - xã hội: Người M'nông theo chế độ mẫu hệ, con cái mang họ mẹ, trong gia đình người vợ giữ vị trí chính, nhưng người chồng không bị phân biệt đối xử, họ sống tôn trọng nhau. Cha mẹ về già thường ở với con gái út. Trưởng làng đóng vai trò to lớn trong dân làng.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục:
Trang phục của phụ nữ M’nông thường gồm một váy ngắn và áo được phối hợp với nhau. Ngoài trang phục, phụ nữ M’nông còn rất chú ý tới việc phối hợp với đồ trang sức. Họ thường đeo khuyên tai khá rộng bằng gỗ hoặc bằng bạc, phía dưới treo một đôi hoa bằng đồng hoặc bằng vàng bạc và dưới cùng treo vài chiếc lục lạc nhỏ. Ngoài ra,các vòng cổ, vòng tay hạt cườm, nhẫn bạc, đồng hay bằng sừng trâu cũng được phụ nữ M’nông rất ưa thích.
Trang phục nam thường ngày gồm có khố và áo dài. Chiếc áo của nam giới M’nông có cổ tròn, thân bằng vai và mở xuống một đoạn của ngực áo được đính khuy và khuyết. Áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước một chút, hoa văn được trang trí trên đường viền áo. Khố được quấn gọn gàng ngang thắt lưng, phần tua dải trước và sau dài 30-50cm. Tuy nhiên, để thuận tiện cho công việc lao động hàng ngày, đàn ông M’nông thường mặc quần xà lỏn và áo ngắn tay.
2. Văn nghệ dân gian:
Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú.
Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa.
3. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Trong xã hội người Mnông xưa, nội hôn được quy định khá nghiêm ngặt, nhưng nay đã xuất hiện hôn nhân ngoại tộc. Người Mnông thường ở nhà vợ sau hôn nhân, một số nơi xuất hiện hình thức luân cư rồi ra ở riêng.
Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền quan trọng nhất của người Mnông. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hằng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa.
Ma chay: Khi có người chết, cả làng cùng lo tang lễ. Người chết bình thường được quàn tại nhà khoảng 2 ngày rồi chôn (thổ táng). Những trường hợp chết bất thường phải chôn ngay, không đưa vào nhà. Người chết được chia tài sản mang sang thế giới tổ tiên (Phan).
Nhà mới: Khi xây xong nhà, gia đình tổ chức lễ vào nhà mới với lễ cúng heo, ăn uống và uống rượu cần trong tiếng cồng chiêng vui vẻ.
IV. Ẩm thực lễ hội:
Người M’nông rất thích ăn thức ăn có vị chua: măng chua (băng s’rat), và đặc biệt rất thích ăn mắm: măng thúi (băng ôm), cá mắm (ca ôm), tép, cua suối khô (tui, reng nro), thịt mắm (poach ôm), mắm huyết (n’ôm m’ham), thịt trâu muối, thịt bò muối, thịt heo muối được treo trong các gác bếp, góc bếp chúng là những loại thức ăn không thể thiếu trong mỗi gia đình của người M’nông. Nguồn thức ăn quanh năm sẵn có nơi núi rừng. Măng chua có thể nấu canh bồi, canh thục. Và thịt trâu, thịt bò, thịt heo ướp muối phơi khô; cá mắm; thịt mắm để bỏ vào nồi canh bồi, canh thục làm tăng thêm mùi vị của canh.
Lễ hội đặc trưng của người M’nông là lễ hội Tăm Blang M’prang Bon thường tổ chức vào đầu Xuân gồm các hoạt động như: chuẩn bị lễ vật, đánh chiêng, múa xoang quanh cây nêu, thi tài, trò chơi dân gian: như ném lao, bắn nỏ, kéo co, nhảy sạp, hát đối đáp, kể sử thi (ôt ndrong)…, trao đổi nông sản, hàng hóa – hình thức giao thương truyền thống giữa các buôn làng mang ý nghĩa cầu mong các vị thần linh ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cây cối tốt tươi, cuộc sống ấm no, con cháu khỏe mạnh hạnh phúc, cùng chung sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
V. Đóng góp:
Dân tộc M’Nông có nhiều đóng góp quan trọng cho lịch sử và văn hóa Việt Nam. Tiêu biểu là tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm qua phong trào khởi nghĩa của N'Trang Lơng, thể hiện lòng yêu nước và ý chí bảo vệ quê hương của đồng bào Tây Nguyên. Bên cạnh đó, người M’Nông còn gìn giữ và phát huy nhiều giá trị văn hóa đặc sắc như sử thi, cồng chiêng, dân ca, dân vũ và các lễ hội truyền thống. Những giá trị ấy góp phần làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc.