I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: La Hủ ( tên gọi khác Xá lá vàng, Cò Xung, Khù Sung, Kha Quy, Cọ Sọ, Nê Thú.)
Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng),
Dân số: khoảng12.113 người
Phân bố dân cư: cư trú chủ yếu ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Đặc điểm cư trú:
Phân tán thành nhiều xóm nhỏ với thành phần dân cư thay đổi thường xuyên do lối sống du canh. Xã hội chưa có sự phân hoá giàu nghèo. Người phụ nữ được tôn trọng trong gia đình song có ít vai trò xã hội.
Quan hệ dòng họ lỏng lẻo, không có người đứng đầu dòng họ và không có nghi lễ cúng bái cho cả họ. Một số mang tên chim, thú nhưng nhiều họ khác không còn ai nhớ ý nghĩa.
Nguồn gốc: Người La Hủ vốn là một nhánh của siêu tộc Địch – Khương mà sử sách Trung Quốc gọi là Tây Nhung với địa bàn phát tích thuộc miền đất nằm giữa các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên của Trung Quốc ngày nay. Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu, những người La Hủ đầu tiên đến cư trú mới cách đây khoảng 10 đời.
Các nhóm La Hủ gồm: La Hủ Đen, La Hủ Vàng và La Hủ Trắng.
Về tộc danh: Tên gọi La Hủ có từ đời Thanh. Theo Danh mục thành phần các dân tộc ở Việt Nam được công bố năm 1979, quy định tên gọi là La Hủ.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp: Người La Hủ chủ yếu làm nương du canh với nhịp độ luân chuyển cao. Gần đây họ chuyển dần sang trồng lúa trên ruộng bậc thang. Người La Hủ nổi tiếng về nghề đan lát (mâm cơm, ghế mây), rèn. Săn bắt, đánh cá, hái lượm có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế.
Tổ chức xã hội - gia đình: Xã hội phụ hệ.
Quan niệm sống, tính cách con người: Người La Hủ thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã mất vào các dịp lễ, tết. Họ quan niệm tổ tiên là bố mẹ, ông bà đã mất chỉ thờ tổ tiên một đời, tức là bố mẹ của gia chủ và đó cũng là ma nhà.
Nhà ở: Trước đây họ thường làm nhà, lều rải rác ở ngay trên nương, trên núi cao thuộc hai xã Pa Ủ và Pa Vệ Sủ huyện Mường Tè (Lai Châu). Nhà lợp lá, lá vàng lại chuyển đi nơi khác nên người La Hủ mới có tên Xá Lá Vàng. Hiện nay, họ phổ biến ở nhà trệt hoặc trình tường bằng đất hoặc ván. Bếp, nhà thờ và giường ngủ của gia đình bao giờ cũng ở chung một gian.
III. Văn hóa đặc trưng:
1. Trang phục:
Trang phục nữ giới: phụ nữ đội khăn đội đầu với những chi tiết rất sặc sỡ và rực rỡ nhất bằng cách sử dụng thêm vòng chụp đầu, mũ, dây cuốn tóc, vòng dây trang điểm, dây len và dây tua len đội đầu. Phụ nữ mặc áo dài tay, cổ tròn thêu hoa văn, thân áo, nách và tay áo đều thêu hoa văn hoặc nẹp vải. Trước đây, người La Hủ tự nhuộm vải để làm tay áo. Quần của phụ nữ La Hủ được làm bằng vải tự dệt nhuộm chàm đen. Quần may kiểu chân què, nối đũng, góc đũng rộng hơn 90 độ, chiều dài thân quần và chiều rộng cạp quần tùy dáng người mặc.
Trang phục nam giới: người La Hủ đơn giản hơn, gồm có khăn, áo và quần đều nhuộm chàm.
2. Văn nghệ dân gian:
Điệu múa đặc trưng:
Nhạc cụ đặc trưng: Người La Hủ thích nghe và sử dụng thành thạo khèn.
3. Phong tục tập quán:
Cưới xin: Trai gái La Hủ được phép tự do yêu đương khi đến tuổi lập gia đình. Việc cưới hỏi được tiến hành qua nhiều bước. Trong só lễ vật nhà trai đưa sang nhà gái bắt buộc phải có thịt sóc. Sau lễ cưới, cô dâu cư trú bên chồng. Tuy nhiên, tục ở rể vẫn tồn tại với những chàng trai không sắm đủ đồ dẫn cưới, nhất là bạc trắng.
Ma chay: Khi nhà có người chết, người ta bắn súng để đuổi ma và báo cho họ hàng, làng xóm biết. Quan tài thường là một khúc gỗ bổ đôi, khoét rỗng cả hai nửa. Ngày giờ đi chôn được lựa chọn cẩn thận.
Người La Hủ không có nghĩa địa cố định. Thời hạn để tang của con cái đối với cha mẹ là ba năm song không có các dấu hiệu đặc biệt trên trang phục hay đầu tóc.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Người La Hủ ăn cơm tẻ là chính, các loại rau củ quả, măng, nhất là các loại củ cho chất bột như củ báng, củ đao, củ nâu, các loại củ mài, các loại thịt.
Người La Hủ có cách bảo quản thực phẩm như sấy khô; làm măng chua; phơi khô (măng, nấm, mộc nhĩ).
Người La Hủ có thói quen uống rượu trong ngày thường, đặc biệt trong các dịp lễ, tết, hội hè, đám cưới, mừng nhà mới. Tục hút thuốc rất phổ biến ở cả nam và nữ.
Tết truyền thống của dân tộc La Hủ (Nhi chê chê) diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 5 tháng Mười Một. Ăn tết xong 13 ngày đến ngày “Nhi chê khó” (ngày rằm), tết của con trai, họ nấu bánh chưng, bánh giày. Theo quan niệm của người La Hủ, sau ngày Nhi chê khó không được giã bánh giày.
Người La Hủ ở một số nơi ăn tết vào một ngày tốt trong tháng 12 hoặc ngày cuối cùng của tháng 12, ngoài ra còn ăn tết các tháng 3, tháng 6, tết dân tộc.
Tết cơm mới diễn ra từ tháng Chín đến tháng Mười, sau khi thu hoạch xong mùa màng.
V. Đóng góp:
Người La Hủ sinh sống chủ yếu ở khu vực biên giới, nên có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia và giữ gìn an ninh biên giới. Không chỉ vậy, người La Hủ còn góp phần làm giàu bản sắc văn hóa Việt Nam thông qua các phong tục, lễ hội và tín ngưỡng độc đáo của mình. Đồng thời, tinh thần đoàn kết, gắn bó với cộng đồng các dân tộc khác cũng góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.