I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Phù Lá (Xá Phó, Cần Thin, Lao Va Xơ, Bồ Khô Pạ).
Nhóm địa phương: Phù Lá Lão - Bồ Khô Pạ, Phù Lá Ðen, Phù Lá Hán.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến.
Dân số: khoảng 12.471 người.
Phân bố dân cư: Cư trú chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, tập trung nhiều tại các tỉnh Lào Cai (Yên Bái cũ), Tuyên Quang (Hà Giang cũ), Sơn La, Lai Châu.
Đặc điểm cư trú: Nhóm Phù Lá lão sống phân tán thành những chòm xóm với quy mô nhỏ, các nhóm còn lại tập trung hơn.
Nguồn gốc: Nhóm Phù Lá Lão - Bồ Khô Pạ là cư dân có mặt tương đối sớm ở Tây Bắc nước ta do canh tác nương rẫy “đao canh hỏa chủng” nên họ cần tìm đất đai mới để khai phá làm ăn, các nhóm khác đến muộn hơn, khoảng 200 - 300 năm trở lại, quá trình hội nhập của nhóm Phù Lá Hán còn tiếp diễn cho tới những năm 40 của thế kỷ XX.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp: Người Phù Lá gắn liền với hoạt động làm nương và ruộng bậc thang, các sản phẩm đan bằng mây, trúc với nhiều hoa văn, màu sắc như các đồ đựng quần áo, thức ăn thì rất nổi tiếng. Họ quen sử dụng nỏ, tên tẩm thuốc độc, trồng bông, dệt vải, xe sợi bằng con trượt. Chăn nuôi gồm có trâu để kéo cày, ngựa để thồ, gà, lợn để lấy thịt.
Tổ chức xã hội - gia đình: Quan hệ láng giềng là mối quan hệ chủ đạo trong các bản Phù Lá. Trong bản có nhiều họ khác nhau, mỗi họ lại chia thành nhiều chi. Tuy nhiên, quan hệ dòng họ không thật sự chặt chẽ. Người Phù Lá theo chế độ phụ hệ.
Nhà ở: Người Phù Lá ở nhà sàn, nhà đất, nhà sàn nửa đất tùy theo địa hình nơi họ sống, họ xây kho thóc quây quần thành một khu và thường làm cách xa nhà để phòng hỏa hoạn. Nhà đất có cấu trúc gồm kèo đơn giản chỉ có một bộ kèo tam giác gồm hai kèo và một quá giang gác lên đầu tường. Hoặc có thêm một cột hiên, nhà sàn có cấu trúc nhà thường ba gian hai chái. Gian chính giữa, giáp vách tiền là chạn bát, ở giữa nhà là bếp, giáp vách hậu là bàn thờ.
III.Văn hóa đặc trưng:
1. Trang phục: Phù Lá độc đáo trong lối tạo dáng và phong cách thẩm mỹ, khó lẫn lộn với bất cứ tộc người nào trong cùng ngữ hệ và khu vực.
Trang phục nữ: Phụ nữ thường mặc áo ngắn với cổ vuông, hoặc tròn thấp, tay áo dài và chui đầu. Kết cấu áo thường là năm thân bao gồm thân áo, ngực áo, cổ áo, tay áo và gấu áo. Trang phục chủ yếu là các màu đen, đỏ, vàng, tím; họa tiết thêu tối giản.
Trang phục nam: Nam giới thường mặc áo, quần và khăn đội đầu. Hoa văn trang phục chủ yếu là màu đen, đỏ, vàng, tím…Họa tiết được thêu trên trang phục cũng rất tối giản, thường là các đường lằn chỉ màu hình vuông được xếp xen kẽ, đối xứng nhau theo chiều dọc hoặc ngang tạo sự hài hòa, bắt mắt.
Văn nghệ dân gian: Nghệ thuật dân gian của người Phù Lá rất đa dạng, bao gồm văn học (truyện cổ tích, hát kể…), âm nhạc (sử dụng kèn, trống, dân ca giao
duyên, múa xòe theo làn điệu của người Thái) và các trò chơi dân gian (đu quay, đi cà kheo, đánh yến…).
2. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Trai gái được tự do tìm hiểu; khi đôi bên yêu thương và ưng thuận, họ tiến hành các lễ dạm, hỏi, cưới với nhiều nét đặc sắc như uống rượu, hát đối, vẩy nước bẩn, bôi nhọ nồi đoàn nhà trai và tục lại mặt sau mười hai ngày.
Sinh nở: Sản phụ đẻ ngồi, phải ngủ trên đệm rơm, nhau thai được chôn dưới gầm giường. Sau khi sinh, gia đình kiêng người lạ ba ngày. Lễ đặt tên diễn ra sau mười hai ngày, do thầy mo thực hiện, mỗi người có hai tên.
Tín ngưỡng: Thờ tổ tiên nam để cầu sức khỏe và thờ tổ tiên nữ để mong mùa màng tốt tươi. Lễ cơm mới do phụ nữ đại diện cúng, nữ giới được ăn trước. Họ còn có lễ cúng bản vào tháng hai và nhiều nghi lễ nông nghiệp; những vật dụng mới như chiếc chài phải được cúng trước khi dùng. Thầy cúng giữ vai trò quan trọng, truyền nghề vào dịp tết tháng Giêng và tháng Bảy.
Lễ tết: Đón Tết Nguyên đán cùng các tết tháng Năm, tháng Bảy và lễ cơm mới.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Người Phù Lá còn thể hiện nét riêng của mình qua ẩm thực, họ giã gạo bằng chày tay, ăn cơm tẻ. Ðồ nếp thường dùng trong lễ cúng, làm bánh. Cơm nếp, các món ăn cá, thịt ướp với gạo rang giã nhỏ cùng gia vị ớt, rau thơm, thịt nướng rất được họ ưa thích. Đồ uống gồm nước suối, nước pha với thảo mộc hoặc rượu.
Lễ hội đặc trưng của dân tộc Phù Lá là lễ hội mừng cơm mới, thường diễn ra tùy vào mỗi bản hoặc mỗi nhà chọn một ngày đẹp khi cánh đồng lúa chín ngả vàng với ý nghĩa cảm ơn tổ tiên, trời đất khi lúa chín, cầu mùa sau sinh sôi nảy nở. Lễ mừng cơm mới gồm nghi thức chính, sáng sớm ngày lễ, người vợ/chủ nữ mặc áo mới lặng lẽ ra nương cắt những bông lúa đầu tiên, tránh gặp người làng; khi cắt quay mặt về hướng Đông để cầu sinh nở, phát triển. Lúa được đưa về như rước “hồn lúa” vào nhà, sau đó là bày mâm cúng với sản vật nhà làm: gà, vịt, lợn, cá...đặc biệt không thể thiếu cốm/gạo mới, có nơi nặn bánh tròn/dẹt từ gạo mới dâng tổ tiên.
V. Đóng góp:
Di sản văn hóa phi vật thể của người Phù Lá bao gồm nhiều loại hình khác nhau, trong đó tiêu biểu là các di sản được công nhận như nghề làm nón lá Sai Nga, lễ hội đình Hùng Lô và lễ hội làng La Phù. Các di sản này phản ánh đời sống văn hóa, tín ngưỡng và nghề truyền thống của cộng đồng người Phù Lá, ngày nay người Phù Lá vẫn còn tích cực duy trì, giữ gìn các nét văn hóa ấy để góp phần đa dạng văn hóa cho đất nước.