I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Tày (Thổ).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Dân số: khoảng 1.845.492 người.
Phân bố dân cư: Cư trú chủ yếu ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc như: Quảng Ninh, Bắc Ninh (Bắc Giang cũ), Lạng Sơn, Cao Bằng,Thái Nguyên (Bắc Kạn cũ và Thái Nguyên cũ), Tuyên Quang (Hà Giang cũ và Tuyên Quang) đến Lào Cai (Lào Cai cũ và Yên Bái cũ).
Đặc điểm cư trú: Thường cư trú ở các thung lũng lòng chảo, thung lũng các dòng sông, nơi đất tương đối bằng phẳng, thuận tiện cho sản xuất và cho giao thông đi lại, tương đối dễ dàng tiếp xúc với bên ngoài.
Nguồn gốc: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên và là một trong những chủ nhân đầu tiên của nước Việt cổ.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp:
Khai thác các thung lũng và đồi núi thành những cánh đồng, những triền ruộng bậc thang, những vườn rừng với cọ, hồi, cây ăn quả, hoa màu khác.
Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm.
Nghề thủ công như đan lát, dệt vải, nhuộm chàm, làm ngói máng, chế tác gỗ…
Tổ chức xã hội - gia đình: Tổ chức gia đình dân tộc Tày hiện nay mang tính phụ hệ, với người đàn ông làm chủ và đại diện gia đình, nhưng vẫn giữ nhiều nét truyền thống tốt đẹp và vai trò quan trọng của người phụ nữ.
Nhà ở truyền thống của người Tày bao gồm ba dạng cơ bản: nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất và nhà phòng thủ. Trong đó, nhà sàn là dạng nhà truyền thống phổ biến nhất với cấu trúc chung là loại nhà sàn năm gian, ba gian hoặc một gian, hai chái, mái chéo hình lưỡi rìu, thấp so với mặt sàn. Chung quanh sàn nhà bưng kín bằng tre, phên nứa hoặc ván gỗ, ít cửa sổ. Bộ vì kèo 3, 5, 7 cột kê hoặc những biến thể 2, 4, 6 cột. Mái được lợp bằng cỏ gianh, lá cọ, nứa hoặc ngói. Nhà nửa sàn nửa đất là dạng nhà thích hợp với địa hình dốc, chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở vài nơi, nhất là khu vực trung du gần rừng núi. Nhà phòng thủ là dạng nhà đất có chức năng phòng, chống trộm cướp, thú dữ, chỉ có ở vùng biên giới Việt - Trung. Tại Lạng Sơn, dạng nhà này sau chuyển thành dạng nhà đất hai tầng, trình tường đất dày, tầng hai làm bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương.
III. Văn hóa đặc trưng:
1. Trang phục:
Trang phục nữ: Phụ nữ thường có hai chiếc áo, một chiếc áo cánh ngắn và một chiếc áo dài; quần hoặc váy, thắt lưng; khăn vấn tóc và khăn vuông đội trên đầu. Áo cánh là loại áo ngắn, mỏng, may bằng vải trắng hoặc màu sáng, mặc bên trong áo dài. Áo có bốn thân, xẻ ngực, cổ tròn, ống tay nhỏ, có hai túi nhỏ ở vạt áo. Áo dài là loại áo năm thân, có năm cúc bằng nút vải hoặc bằng đồng cài bên nách phải; thắt lưng dài quấn quanh bụng rồi buộc phía sau, buông dài xuống ngang kheo chân; cổ áo tròn; ống tay dài và hẹp.
Trang phục nam: Nam giới gồm áo cánh bốn thân, xẻ ngực, buộc khuy nút vải, cổ tròn, ống tay áo nhỏ và dài, có hai túi ở hai bên vạt áo. Quần may theo kiểu chân què, cạp lá tọa.
Văn nghệ dân gian:
Người Tày có rất nhiều các làn điệu dân ca như lượn, then, quan lang, hát ví, hát ru, hát đồng dao…
Lượn là làn điệu được sử dụng thường xuyên dưới hình thức hát giao duyên nam nữ, được hát trong nhà và những dịp lễ.
Then được coi là một làn điệu dân ca đặc biệt, trước kia hầu như chỉ sử dụng trong nghi lễ dưới hình thức hát xướng và khi hát có thể kết hợp với cả múa và nhạc.
Hát quan lang chỉ sử dụng trong đám cưới, là hình thức hát đối đáp giữa đại diện nhà trai và nhà gái.
Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Đàn tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Tày, như linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ Tày.
2. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Nam nữ được tự do yêu đương nhưng việc kết hôn phụ thuộc vào sự đồng ý của cha mẹ hai bên và sự hợp “số mệnh” qua xem lá số. Sau khi cưới, cô dâu vẫn ở nhà cha mẹ đẻ, chỉ về sống hẳn với nhà chồng khi sắp sinh con.
Sinh đẻ: Khi mang thai và sau khi sinh, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều điều để mẹ tròn con vuông, con khỏe mạnh. Sau 3 ngày sinh, gia đình làm lễ cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ; đến khi đầy tháng thì tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Đám ma được tổ chức trang trọng với nhiều nghi lễ nhằm báo hiếu và tiễn hồn người chết về thế giới bên kia. Sau 3 năm, gia đình làm lễ mãn tang để đưa người đã khuất lên bàn thờ tổ tiên và hằng năm tổ chức cúng giỗ vào ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Tín ngưỡng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Lương thực chính mà người Tày sử dụng để nấu ăn hằng ngày là gạo tẻ. Ngoài cơm tẻ ăn hằng ngày, người Tày còn sử dụng gạo tẻ và gạo nếp để nấu cháo, cơm lam, bún, cốm, rất nhiều món xôi và các loại bánh. Ngoài ra, một số món ăn nổi tiếng ở người Tày là thịt trâu xào măng chua, thịt lợn chua, cá ruộng ướp chua; canh cá lá chua và tất cả các loại quả chua như khế, sấu, trám, tai chua...; xôi trứng kiến, xôi ngũ sắc, măng chua, nhộng ong đất, khâu nhục, lạp xưởng, thịt lợn hong khô, trám đen, cơm lam, lợn vịt quay, coóng phù (trôi tàu). Đặc biệt, món bánh trứng kiến được xem là một đặc sản bởi nhân của nó được chế biến từ trứng của một loài kiến đen xây tổ trên cành cây đem xào với mỡ, muối, kiệu hay hành lá.
Lễ hội tiêu biểu nhất của người Tày là Lễ hội Lồng tồng, hay còn gọi là lễ hội xuống đồng, được tổ chức đầu năm âm lịch để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no. Lễ hội này có hai phần chính: phần lễ trang nghiêm với các nghi thức cúng tế thần linh và phần hội sôi động với nhiều trò chơi dân gian. Ngoài ra còn có lễ hội rước Đất, rước Nước cũng là một lễ hội của đồng bào dân tộc Tày, để cầu xin Mẹ Đất, Mẹ Nước phù hộ cho đất luôn màu mỡ, cầu cho nguồn nước không bao giờ cạn, giúp dân bản có cuộc sống no đủ quanh năm.
V. Đóng góp:
Giá trị cốt lõi của người Tày đối với đất nước thể hiện ở tinh thần yêu nước, gắn bó với quê hương và ý thức gìn giữ biên cương nơi họ sinh sống từ bao đời. Họ đóng góp cho đất nước bằng lao động cần cù, gắn bó với ruộng nương và bảo tồn các di sản văn hóa như hát then, đàn tính, góp phần làm phong phú bản sắc dân tộc Việt Nam. Những giá trị ấy tạo nên một cộng đồng bền vững, luôn hướng về sự ổn định và phát triển chung của quốc gia.