I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Chăm (Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời).
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Ngôn ngữ: Tiếng Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Dân số: Khoảng 178.948 người.
Phân bố dân cư: Cư trú chủ yếu ở vùng duyên hải miền trung và một số thuộc Tây Nam Bộ. Tập trung nhiều ở các tỉnh như: Khánh Hoà (Ninh Thuận cũ), Lâm Đồng (Bình Thuận cũ) chủ yếu (theo Bàla môn). Một số bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Nguồn gốc: Người Chăm có lịch sử cư trú lâu đời ở đồng bằng ven biển miền Trung từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỷ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp:
Có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi.
Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu. Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên.
Tổ chức xã hội - gia đình: Xã hội người Chăm lấy làng làm đơn vị cơ bản, chịu sự chi phối mạnh của luật tục, thiết chế làng và tôn giáo. Gia đình Chăm truyền thống mang đậm nét mẫu hệ, đặc biệt ở miền Trung; tuy ở vùng theo Hồi giáo Islam đã chuyển sang phụ hệ và đề cao vai trò nam giới, nhưng nhiều tập quán mẫu hệ vẫn được duy trì.
Nhà ở truyền thống của người Chăm thường ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út. Hiện nay, đa số người Chăm ở nhà gạch được xây theo kiến trúc hiện đại.
III. Văn hóa đặc trưng:
1. Trang phục:
Trang phục nam: Nam giới mặc xà rông với áo ngắn hoặc áo dài, đội khăn trắng. Áo có cổ nhỏ, ve cổ viền cứng, xẻ cúc giữa ngực, xẻ tà hai bên hông. Nam giới luôn đội mũ kepih trên đầu. Trong các dịp lễ hội quan trọng, nam giới mặc áo màu trắng dài đến gót chân và xà rông trắng, có thể choàng thêm chiếc khăn trắng dài, trên đầu đội vòng (hoặc thắt dây) ykal.
Trang phục nữ: Nữ giới cũng mặc xà rông và áo chui đầu dài, không xẻ tà, luôn quấn khăn mardrah thêu nhiều hoa văn đa dạng, che kín tóc trên đầu.
Văn nghệ dân gian:
Nhạc cụ Chăm nổi bật phải kể đến nhạc cụ gõ với hai loại trống: trống ba-ra-nưng là trống một mặt, bịt da hoẵng, căng bằng dây mây, đánh bằng tay.; trống ky năng (Ginăng) trống hai mặt, hình dáng cân đối, một mặt đánh bằng dùi, một mặt vỗ tay.
Nhạc hơi tiêu biểu là kèn sa-ra-nai, làm bằng gỗ mun, có bảy lỗ, âm thanh liền hơi, giữ vai trò quan trọng trong dàn nhạc. Nhạc cụ kéo độc đáo là nhị mu rùa, có bầu cộng hưởng bằng mu rùa, âm thanh vang, bi ai, chỉ dùng trong lễ tang. Ngoài ra còn có chiêng, lục lạc…, tạo nên dàn nhạc Chăm đa dạng về âm thanh, đặc biệt hiệu quả khi đệm múa.
Múa Chăm độc đáo và phong phú: có múa sinh hoạt và múa tôn giáo, có múa tập thể và độc diễn, có múa đạo cụ và múa chỉ bằng động tác tay chân và toàn thân. Múa quạt là điệu múa phổ biến với những dạng thức khác nhau. Với đạo cụ là quạt múa thể hiện cuộc sống của các loài chim.
2. Phong tục tập quán:
Trong phong tục tập quán của người Chăm, trước hết ở tục cưới xin người Chăm thường kết hôn với những người đồng tộc, đồng tôn giáo và quan hệ hôn nhân là thiết chế theo dòng mẹ. Với cộng đồng Hồi giáo, nhà trai nhờ cậy ông bà mai đi qua nhà gái bàn bạc, trao đổi và tổ chức đi hỏi vợ nhưng sau lễ tại thánh đường, chú rể được đưa đến nhà gái ở rể và sinh sống ở đó một thời gian, dài hay ngắn là tùy theo thỏa thuận của hai bên gia đình. Ở cộng đồng Bàlamôn, quyền chủ động trong hôn nhân thuộc về nhà gái. Sau lễ cưới, chàng trai sẽ ở rể tại nhà vợ. Kế đến, tục ma chay của người Chăm Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Người Chăm cũng có ẩm thực vô cùng phong phú. Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống yêu thích và truyền thống của họ là rượu cần, rượu gạo. Đặc biệt trong những ngày lễ hội văn hóa dân tộc Chăm, bạn sẽ thấy có những chiếc bình rượu cần rất lớn, được đặt ở giữa sân lễ, mọi người cùng nhảy múa, hát hò và thưởng thức rượu cần Chăm đặc sắc. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền. Tuy nhiên sẽ có sự khác biệt về tôn giáo cũng tạo nên những khác biệt trong ẩm thực của người Chăm. Người Chăm Bàlamôn có tỷ lệ tôm cá cao trong bữa ăn, không ăn thịt bò, khẩu phần ăn được chia thành từng đĩa; người Chăm Hồi giáo và Bàni sử dụng nhiều thịt và các chế phẩm từ thịt, trừ thịt lợn, bố trí bữa ăn theo mâm.
Người Chăm có các lễ hội vô cùng đặc sắc và phong phú như: lễ hội liên quan đến nông nghiệp, lễ cúng tế thần linh, lễ hội múa Chăm, lễ hội ở thánh đường, lễ hội ở các đền tháp...Lễ hội Ka tê lớn nhất, là lễ tưởng nhớ các anh hùng, tổ tiên; lễ hội Ranưwan là lễ hội điển hình về lễ nghi ở Thánh đường của người Chăm; lễ hội Tháp Bà tưởng niệm nữ thần mẹ xứ sở - người có công tạo lập, duy trì nòi giống, tìm ra cây lúa, dạy dân trồng trọt, lễ mừng sức khỏe, lễ múa tống ôn đầu năm, lễ cưới...
V. Đóng góp:
Người Chăm sở hữu nhiều di sản văn hoá độc đáo như: Tại trưng bày thường xuyên của Bảo tàng Dân tộc học học Việt Nam, hiện vật của người Chăm được giới thiệu trong không gian các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo ở tầng 2 của tòa nhà Trống đồng. Tất cả bài viết và thông tin đều được thể hiện bằng ba ngôn ngữ (Việt, Pháp, Anh). Ngoài ra, tại Vườn Kiến trúc (trưng bày ngoài trời) của Bảo tàng, công chúng có thể khám phá khuôn viên nhà người Chăm của một gia đình quý tộc Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận. Hay Các ngôi tháp Chăm nằm rải rác dọc miền trung từ Ðà Nẵng đến Bình Thuận, có kiến trúc độc đáo. Các tháp Chăm ở khu vực Mỹ Sơn có kiến trúc mỹ thuật cổ giá trị nhất. Trong chiến tranh khu di tích này bị hủy hoại nghiêm trọng, nhất là khi đế quốc Mỹ cho máy bay ném bom B52 hủy diệt lòng chảo Mỹ Sơn. Khi miền nam hoàn toàn giải phóng, các di tích mới được bảo vệ, tôn tạo trả lại giá trị cho nó. Gần đây khu di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Từ những khu di tích và quá trình khảo cổ người ta đã tìm thấy vẻ đẹp của điêu khắc dân tộc Chăm. Hiện nay hiện vật điêu khắc cổ dân tộc Chăm được lưu giữ ở nhiều bảo tàng quốc gia Việt Nam trong đó có hơn 300 hiện vật ở Bảo tàng điêu khắc Chăm Ðà Nẵng.