I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Co.
Tên gọi khác: Cor, Col, Cua, Trầu.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Dân số: Khoảng 40.442 người.
Phân bố dân cư: Người Co sống tập trung ở Trà Bồng và Trà Mi thuộc tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam (Đà Nẵng mới). Người Co cũng cư trú rải rác ở các tỉnh Kon Tum (Quãng Ngãi mới), Gia Lai, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế.
Nguồn gốc: Người Co cư trú rất lâu đời ở tây bắc tỉnh Quảng Ngãi và tây nam tỉnh Quảng Nam. Đến nay, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng người Co là một trong những cư dân bản địa ở khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên.
II. Đời sống xã hội:
1.Nghề nghiệp:
Kinh tế rẫy là nguồn sống chủ yếu, lúa rẫy là nguồn lương thực chính.
Chăn nuôi: Trâu, lợn, gà trước hết để cúng tế; chó hầu như nhà nhà đều có.
Nghề dệt và rèn không phát triển. Ðồ đan đẹp và phong phú. Sản phẩm hái lượm và săn bắt có ý nghĩa không nhỏ trong đời sống người Co.
2. Tổ chức xã hội - gia đình: Người Co thiên về phụ hệ.
3. Nhà ở: Nhà sàn dài, cửa ra vào ở hai đầu hồi. Trong nhà chia dọc thành 3 phần: lối đi ở giữa, một bên được ngăn thành từng buồng nhỏ cho các gia đình sinh hoạt riêng, còn một bên dùng làm nơi sinh hoạt chung (tiếp khách, họp bàn, tổ chức lễ hội, ăn uống đông người, đan lát, vui chơi...). Xưa kia thường mỗi làng ở tập trung trong một vài ngôi nhà kiểu này, dài có khi hàng trăm mét, bên ngoài có rào chắn và bố trí vũ khí để phòng vệ. Theo truyền thống, mỗi khi hoàn thiện nhà dài, người Co sẽ treo lên đó bộ gu khắc vô vàn những hoa văn để trang trí. Bộ gu đó được làm khi dựng nêu ăn trâu cúng thần Cơ Pơ Noong – vị thần tối thượng trên trời của người Co.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục:
Trang phục nữ: Xưa, trang phục dành cho phụ nữ Co thì có váy. Váy của phụ nữ thường là một tấm vải thổ cẩm có màu chàm đen. Chiều rộng khoảng từ 80 cm đến 1m, chiều dài khoảng 1m. Váy khi dệt xong được khâu lại làm cho váy có dạng hình ống. Tùy vào từng lứa tuổi mà phần chân váy được thêu thêm nhiều tua màu sặc sỡ. Và khi mặc vào, phụ nữ Co dùng dây thắt lưng quấn vào lưng để cho váy khỏi bị tuột. Đi kèm váy là áo cộc tay màu trắng bạc. Khi dệt, hai tấm rời nhau rồi họ dùng chỉ khâu lại với nhau dạng chui đầu và xẻ cổ. Dọc theo thân áo là những đường viền hoa văn rất đẹp. Đây là loại áo rất được các thiếu nữ Co chưa chồng rất thích mặc. Còn đối với phụ nữ có chồng hoặc những người già lớn tuổi, họ thường mặc một tấm vải cũng màu trắng bạc gọi là yếm, có dáng chữ V. Khi mặc vào họ thắt dây quàng qua cổ và có dây thắt lưng.
Trang phục nam: Nam giới Co đóng khố, ở trần. Có khố thường (tanon), khố lễ (tanon nhau). Khố là trang phục dành cho đàn ông Co có chiều rộng khoảng từ 25 đến 30 cm và có chiều dài khoảng 3m5 đến 4m tùy thuộc vào mỗi người. Khố đàn ông Co được dệt trên nền chàm đen, dọc theo thân khố là những dãy hoa văn như đỏ, vàng, xanh và hai bên chân khố được kết nối với những tua màu vàng. Khi đàn ông Co mặc vào có dáng hình chữ T. Vào các dịp lễ hội hoặc mùa lạnh có thêm tấm choàng (ra mak). Tấm choàng của người Co cũng được dệt trên nền vải thổ cẩm, có chiều rộng khoảng từ 0,8m đến 1m với trang trí nhiều dải hoa văn với các màu đỏ, vàng, trắng, hoa văn hình răng cưa hay hình học chạy song song theo chiều dài của tấm choàng.
2. Văn nghệ dân gian: Ưa thích âm nhạc, dùng bộ chiêng 3 chiếc là phổ biến: nhạc cụ còn có trống, các loại đàn nhị. Múa chỉ xuất hiện trong lễ đâm trâu. Các điệu dân ca Xru (Klu), Agiới được lưu truyền rộng rãi. Vốn truyện cổ khá phong phú, có huyền thoại, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn... Nghệ thuật trang trí tập trung nhất ở cây cột lễ và cái “gu” trong lễ hội đâm trâu.
3. Phong tục tập quán:
Cưới xin: Hôn nhân cư trú bên chồng. Có tục nối dây (chồng có thể lấy chị/em vợ nếu vợ mất, nhưng vợ goá không được lấy em chồng). Có nhiều quy định nghiêm ngặt về quan hệ huyết thống và thông gia. Đám cưới đơn giản, gọn nhẹ.
Ma chay: Quan tài độc mộc, chôn tại nghĩa địa làng gần nơi ở. Có tục “chia của” cho người chết, chôn theo cả vật dụng và tài sản quý như ché, chiêng.
Thờ cúng: Tín ngưỡng đa thần, tin có thần và các loại ma (ma người chết, ma rừng, ma nước, thần bếp...). Nhiều nghi lễ, kiêng cữ gắn với đời sống và sản xuất.
Lễ tết: Lễ lớn nhất là lễ đâm trâu tế thần. Tết mừng lúa mới là dịp sinh hoạt cộng đồng sôi nổi, thể hiện đậm nét văn hóa truyền thống.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Ẩm thực: Bữa ăn thông thường là cơm gạo tẻ, muối ớt, các loại rau rừng và thịt cá kiếm được. Trước kia, đồng bào quen ăn bốc. Ðồ uống là nước lã, rượu cần, nay nhiều người đã dùng nước chín, nước chè xanh, rượu cất. Tục ăn trầu cau chỉ được duy trì ở lớp người lớn tuổi, nhưng tục hút thuốc lá vẫn còn phổ biến.
Tết Ngã rạ là lễ tết quan trọng nhất của đồng bào Co, thường diễn ra vào tháng 10 hoặc đầu tháng 11 âm lịch hằng năm. Đây là cái Tết chính mang đậm dấu ấn nguyên sơ, được tổ chức nhằm tạ ơn thần linh, đặc biệt là thần lúa, sau một mùa rẫy. Mở đầu lễ hội là nghi thức già làng đi lấy “lúa thiêng” về cúng, tiếp đó người dân chuẩn bị lễ vật như heo, gà, rượu, trầu cau và các sản vật săn bắt được để dâng thần linh, tổ tiên. Sau phần lễ trang nghiêm, không khí hội trở nên rộn ràng với hình ảnh bà con trong trang phục truyền thống quây quần bên cây nêu, múa hát, hòa cùng tiếng chiêng trống vang vọng núi rừng. Ngày cuối, mọi người cùng ra nương rẫy gieo những hạt giống đầu tiên, gửi gắm ước vọng về một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
V. Đóng góp:
Người Co có truyền thống yêu nước, chủ động đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Người Co luôn có ý thức bảo tồn, gìn giữ và phát huy các phong tục tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống, riêng biệt của dân tộc mình. Trong đó, cây Nêu và bộ Gu truyền thống là biểu tượng tâm linh, có vị trí đặc biệt quan trọng và xuyên suốt, không thể thiếu trong các hoạt động lễ hội như tết mùa, lễ cúng giỗ ông bà, tổ tiên hay tế cúng thần linh của người Co. “Nghi lễ dựng cây Nêu và bộ Gu của người Co” được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Đây là niềm tự hào, vinh dự lớn của cộng đồng người Co.