I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Xơ Đăng (Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila).
Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.
Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau.
Dân số: Khoảng 212.277 người.
Phân bố dân cư: Cư trú chủ yếu ở tỉnh Quảng Ngãi (Kon Tum cũ) và một phần ở các tỉnh Đà Nẵng (Quảng Nam cũ), Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Gia Lai...
Đặc điểm cư trú: Sống quần cư với nhau thành làng (plơi).
Nguồn gốc: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp:
Chủ yếu làm nương rẫy, trồng lúa rẫy, ngô, sắn, kê, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía...Một số nơi có điều kiện canh tác tốt hơn thì làm lúa nước.
Chăn nuôi gia súc.
Nghề thủ công: Dệt thổ cẩm, đan lát, rèn dụng cụ…
Ở một số nơi, người Xơ Đăng đã biết đãi vàng sa khoáng.
Tổ chức xã hội - gia đình: Người Xơ Đăng sống quần cư với nhau thành làng. Về mặt gia đình, người Xơ Đăng phân thành đại gia đình (On vêă) và tiểu gia đình (Kla on vêă). Gia đình mang tính phụ hệ.
Nhà ở: Nhà sàn làm bằng tre, nứa, gỗ; mái dài và thoáng mát. Đặc biệt, nhà rông của họ cao lớn, mái vút lên như mũi thuyền, là nơi hội họp, sinh hoạt và diễn ra các nghi lễ quan trọng. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục:
Trang phục nữ: Phụ nữ mặc áo (ao goh), váy (ktắc), tấm choàng (khăn vai). Trang phục thường là màu chàm hoặc đen, trang trí hoa văn đỏ pha trắng tượng trưng cho núi, suối, mặt trời và khát vọng mùa màng tốt tươi.
Trang phục nam: Nam giới quấn khăn (trăng) hoặc đóng khố (kpen tích).
2. Văn nghệ dân gian:
Nhạc cụ: Đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước… Nổi bật là đàn t’rưng, sáo lô lé hay ga vố, khèn ống vỗ, đàn bầu (brung), hay bróoc tru...Cồng chiêng giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, hòa cùng những nhạc cụ độc đáo như t’rưng, klông pút, tù và… tạo nên những âm thanh vang vọng giữa núi rừng.
Những điệu hát phổ biến là: Hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru.
Múa: Có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia.
Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.
3. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Phong tục khác nhau giữa các vùng, phổ biến là vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm, thường chỉ ở hẳn một nơi khi cha mẹ qua đời. Đám cưới có các nghi thức mang ý nghĩa gắn kết đôi lứa, không mang tính mua bán.
Ma chay: Cả làng cùng chia buồn và giúp tang chủ; quan tài làm bằng gỗ đẽo nguyên khối. Người chết thường được chôn ở bãi mộ chung, có tục chia của cho người đã khuất, không có lễ bỏ mả.
Tín ngưỡng: Người Xơ Đăng tin vào các lực lượng siêu nhiên như thần sấm, mặt trời, núi, lúa, nước… với nhiều lễ cúng nhằm cầu mùa, cầu an và tránh rủi ro.
Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước và các lễ gắn với chu kỳ sản xuất nông nghiệp, đời sống cộng đồng. Tết dân tộc thường diễn ra vào tháng Giêng dương lịch, kéo dài 3-4 ngày.
IV. Ẩm thực lễ hội:
Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã, rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn. Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.
Lễ hội mừng nhà rông mới của người Xơ Đăng là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng quan trọng, thể hiện tinh thần đoàn kết và niềm tin tâm linh của cả làng. Khi nhà rông được dựng xong, dân làng tổ chức lễ cúng để tạ ơn các thần linh, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi và cuộc sống bình yên. Trong lễ hội diễn ra nhiều hoạt động truyền thống như đánh cồng chiêng, múa xoang, uống rượu cần và sinh hoạt tập thể, tạo không khí vui tươi, gắn bó. Lễ mừng nhà rông mới không chỉ khẳng định vai trò trung tâm của nhà rông trong đời sống người Xơ Đăng mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa Tây Nguyên.
Lễ bắc máng nước của người Xơ Đăng thường được tổ chức vào tháng 11, tháng 12 dương lịch hằng năm. Đây là dịp quan trọng để tạ ơn thần nước và cầu mong nguồn nước dồi dào, trong sạch cho sinh hoạt và sản xuất. Trong lễ, già làng và thầy cúng tiến hành nghi thức cúng thần nước với lễ vật truyền thống. Sau đó dân làng cùng nhau bắc máng, dọn suối và bảo vệ nguồn nước. Phần hội diễn ra sôi nổi với các hoạt động như đánh cồng chiêng, múa xoang, uống rượu cần, ăn uống chung, tạo không khí vui tươi, gắn kết cộng đồng. Lễ bắc máng nước vừa mang ý nghĩa tâm linh vừa thể hiện tinh thần đoàn kết và ý thức bảo vệ môi trường của người Xơ Đăng.
V. Đóng góp:
Người Xơ Đăng có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước trong lịch sử và văn hóa, từ bảo vệ rừng núi, biên giới, tham gia kháng chiến đến gìn giữ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận. Ngày nay, việc bảo tồn các giá trị truyền thống như nhà rông, dệt thổ cẩm, tiếng mẹ đẻ gắn với bảo vệ môi trường và phát triển du lịch cộng đồng góp phần phát huy bản sắc và nâng cao đời sống, qua đó khẳng định vai trò của dân tộc Xơ Đăng trong khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.