I. Giới thiệu chung:
Dân tộc Raglai còn có tên gọi khác là Raglai, Ra Glây, Ragla, Rang Chơk, Rang ngok) người Raglai truyền thống gần như chỉ thu hẹp trong khuôn khổ của các bur (xóm) hoặc palei/plei (buôn làng), có xu hướng sống tập trung sinh sống lâu đời ở vùng miền nam Trung Bộ, cư trú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và huyện Khánh Sơn, phía nam tỉnh Khánh Hòa cũng như tại Bình Thuận. Tính đến năm 2019 dân số khoảng 146.613 người. Người Raglai sử dụng tiếng Raglai, một ngôn ngữ trong ngữ chi Malay-Polynesia thuộc ngữ hệ Nam Đảo.
II. Đời sống xã hội:
Trong đời sống kinh tế, nông nghiệp nương rẫy là phương thức sản xuất chủ đạo của người Ra Glai với bắp và lúa là nguồn lương thực chính. Ngoài ra còn có các loại nông sản khác như đậu, khoai củ, hoa quả...Trâu, bò, heo, gà được nuôi thả phổ biến. Những hoạt động thủ công như đan lát, rèn, làm gốm ...mặc dù thô sơ nhưng đủ đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt.
Nhà ở truyền thống của người Ra Glai là nhà sàn từ nền đất đến nhà sàn không cao quá một mét. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng khoảng 12 đến 14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát.
Người Raglai sống theo chế độ mẫu hệ giữ tục “con gái bắt chồng”, đàn ông sống trọn đời ở nhà vợ, con cái đều lấy họ mẹ. Thông thường con gái út trong gia đình được thừa hưởng tài sản, là có trách nhiệm lớn chăm sóc bố mẹ về tuổi già. Mẹ hay vợ là chủ nhà có quyền quyết định trong gia đình. Tuy nhiên trong các gia đình mà đàn ông Raglai lấy vợ là người Kinh hay người của dân tộc sống theo phụ hệ, thì quyền trong gia đình nghiêng về người chồng. Đứng đầu pa-lây là pô pa-lây (trưởng làng), thường đó là người có công khai phá đất đầu tiên. Trưởng làng có trách nhiệm làm lễ cúng trời đất khi bị hạn hán nặng. Người có uy tín nhất dòng họ gọi là kây pa-lây (già làng). Già làng là người điều hành mọi hoạt động, chủ trì các lễ hội, tổ chức đội ngũ phòng chống thú dữ cũng như các lực lượng xâm nhập...).
III. Văn hóa đặc trưng:
Trang phục của người Ra Glai không có cá tính tộc người qua trang phục mà chịu ảnh hưởng khá đậm của các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ, phụ nữ thường mặc váy hoặc quần kết hợp với áo bà ba, một loại áo truyền thống của vùng miền Nam Việt Nam. Trong các dịp lễ hội truyền thống, phụ nữ có thể mặc áo dài và phần trên của áo dài được ghép thành những ô vuông xen kẽ màu đỏ và trắng. Hiện nay, đàn ông thường mặc quần áo phương Tây như quần âu và áo sơ mi. Trước đây, đàn ông ở người Ra Glai thường mặc trần và đóng một loại khố đơn giản, không có hoa văn trang trí.
Văn nghệ dân gian của người Ra Glai khá đa dạng, phong phú. Truyện cổ tích, thần thoại, những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cư dân. Dụng cụ phổ biến là bộ chiêng đồng đầy đủ với 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng 4, 6, 7 hay 9 chiếc. Khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre khá phổ biến. Người Ra-glai cũng là cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng.
Phong tục - tập quán của người Ra Glai phản ánh đậm nét tín ngưỡng và nếp sống truyền thống. Trong Cuới xin, việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhiều thủ tục khá phức tạp. Lễ cưới được tiến hành cả ở hai bên gia đình: nhà gái trước, nhà trai sau. Quan trọng nhất trong lễ cưới là nghi thức trải chiếu cho cô dâu, chú rể. Cô dâu, chú rể ngồi trên chiếu này để hai ông cậu của hai bên cúng trình với tổ tiên, thần linh về việc cưới xin. Cũng chính trên chiếc chiếu này, họ ăn chung bữa cơm đầu tiên trước sự chứng kiến của hai họ.Trong ma chay, người chết được quấn trong vải hoặc quần áo cũ rồi đặt trong quan tài bằng thân cây rỗng hay quấn bằng vỏ cây là tuỳ theo mức giàu nghèo của gia đình. Người chết được chôn trên rẫy hoặc trong rừng, đầu hướng về phía tây. Khi có đủ điều kiện về kinh tế người ta làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết. Quanh nhà mồ được trồng các loại cây như: chuối, mía, dứa và khoai môn. Trên đỉnh nhà mồ còn có hình chiếc thuyền và những chú chim bông lau. Vật dụng thuộc về người chết được phá hỏng, đặt quanh nhà và trong nhà mồ. Trong thờ cúng, người Ra-glai cho rằng, có một thế giới thần linh bao quanh và vượt ra ngoài hiểu biết của họ. Các vị thần đều có thể bớt gây tai họa hay trợ giúp họ nếu được cúng tế và thỉnh cầu. Vong linh người chết là lực lượng siêu nhiên gây cho họ nhiều sợ hãi nhất. Cư dân còn tin vào sự linh hóa của các loại thú vật... Vì vậy, hàng năm thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng bái với việc hiến tế để mong thần linh giúp đỡ. Việc cúng tế này đã có sự tham gia của lớp thầy cúng, họ đang dần tách khỏi lao động và coi cúng bái như một nghề nghiệp chính thức. Trong lễ tết, Theo chu kỳ sản xuất, người Ra Glai thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau, rồi cưới xin, ma chay... Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin và lễ bỏ mả. Ðây chính là những ngày tết của cư dân vùng này.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Ẩm thực người Ra Glai đơn giản, chủ yếu từ sản vật nông nghiệp như cơm, cháo bắp và các loại rau tự nhiên, với canh là món ăn phổ biến được nấu từ thịt, cá và các loại rau. Người Raglai thường ưa thích sử dụng các nguyên liệu tự nhiên trong ẩm thực của mình. Đồ uống phổ biến trong cộng đồng người Raglai là nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần.
Lễ hội nổi bật của người Ra Glai là lễ ăn mừng đầu lúa mới và lễ bỏ mả. Lễ hôi ăn mừng đầu lúa mới thường diễn ra theo chu kỳ 5, 7 hoặc 10 năm, tùy vào điều kiện kinh tế của từng gia đình và kéo dài trong 3 ngày vào khoảng tháng 3 - 4 Âm lịch. Ngày thứ nhất, dựng cây nêu, trình báo tổ tiên. Ngày thứ hai, tra nước vào ché rượu cần, đeo chuỗi hạt cườm. Ngày thứ ba, cầu hồn lúa, hồn bắp, tiễn đưa tổ tiên và lễ tạ ơn thầy cúng Kei Du.Ngoài ra còn có nhảy múa, ca hát để mừng kết quả của nghi lễ mang ý nghĩa đánh dấu sự kết thúc chu kỳ sản xuất, là dịp tạ ơn thần linh đã ban cho mùa màng tốt tươi và cầu mong vụ mùa tới bội thu. Lễ bỏ mả thường được tổ chức vào tháng 3, tháng 4 dương lịch. Lễ bỏ mả thường có các hoạt động như dựng nhà mồ, làm kago (mô hình thuyền bằng gỗ), rạp lễ, gậy cúng, trang phục và đồ lễ như: rượu cần, rượu trắng, trầu cau, đầu heo, thịt heo, cơm, bánh tét, thịt trâu, thịt gà, chuối, cơm rượu…Lễ Bỏ mả diễn ra trong 3 ngày với nhiều nghi thức khác nhau, trong đó có những nghi thức quan trọng như: Lễ rước atuw (linh hồn người quá cố), tổ tiên về chứng giám kago và cúng thức ăn lần một (cúng đám nhỏ); lễ cúng đưa kago về nhà mồ và rước linh hồn người quá cố về cúng thức ăn (cúng đám lớn); ngày cuối tiếp tục cúng thức ăn tống tiễn vong linh người quá cố về với tổ tiên mang ý nghĩa tiễn đưa người chết về “thế giới bên kia”. Đồng thời “giải thoát” hoàn toàn mọi sự ràng buộc của người sống đối với người chết.
V. Đóng góp:
Theo dòng chảy thời gian, một số di sản văn hóa của đồng bào Raglai đang có nguy cơ mai một. Đặc biệt là vấn đề chữ viết, hát - kể chuyện sử thi, truyện cổ hay cách chế tác, sử dụng các loại nhạc cụ... Vậy nên, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, mở các lớp truyền dạy chữ viết truyền dạy sử thi, đánh mã la cho thanh thiếu niên tại các địa phương, quảng bá lễ hội, kết hợp phát triển du lịch.