I. Giới thiệu chung
Tên dân tộc: Chứt (còn gọi là Mã Liêng, A Rem, Tu Vang, Pa Leng, Xơ Lang, …). Bao gồm các nhóm: Sách, Rục, Arem, Mày, Mã Liềng.
Ngôn ngữ: Tiếng Rục, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường.
Dân số: khoảng hơn 7.500 người.
Phân bố dân cư: chủ yếu ở các huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Bình và tình Hà Tĩnh.
Đặc điểm cư trú: Người Chứt gọi làng là cavel. Mỗi làng thường chỉ có dăm bảy hoặc mười gia đình của một dòng họ cư trú.
Nguồn gốc: Quê hương xưa của người Chứt thuộc địa bàn cư trú của người Việt ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Vì nạn giặc giã, thuế khoá nặng nề nên họ phải chạy lên nương náu ở vùng núi, một số dần dần chuyển sâu vào vùng phía tây thuộc hai huyện Minh Hoá và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Theo gia phả của một số dòng họ người Việt trong vùng thì các nhóm Rục, Sách cư trú tại vùng núi này ít nhất đã được trên 500 năm.
II. Đời sống xã hội
Nghề nghiệp: Người Chứt sống chủ yếu bằng trồng trọt và một phần nhờ săn bắn và hái lượm. Họ ăn cơm đồ cách thuỷ với thức ăn thường có rau rừng thái nhỏ nấu với ốc hay cá suối. Các đồ dùng bằng kim loại và vải vóc, y phục phải mua hoặc trao do người Chứt không trồng bông dệt vải hay chế tạo đồ kim loại.
Tổ chức xã hội - gia đình: chế độ phụ hệ. Người đàn ông là chủ gia đình, có quyền quyết định mọi việc lớn trong gia đình.
Nhà ở: Trong các nhóm của dân tộc Chứt, người Mày, Mã Liềng, Arem ở nhà sàn; người Sách, Rục ở nhà đất. Trước đây khi còn cư trú ở trong rừng, người Sách Cọi, Mày, Rục đều có tập quán ở trong hang đá, mái đá, nơi có các rục nước. Nét nổi bật của ngôi nhà sàn người Chứt (nhóm Arem) là hai chiếc khau cút được bố trí ở hai đầu nóc nhà.
III. Văn hóa đặc trưng
1.Trang phục:
Người Chứt không biết dệt vải, vải mặc mua hoặc trao đổi với người Việt, người Lào trong vùng giáp biên. Mùa hè, nam giới đóng khố, cởi trần. Phụ nữ mặc váy. Mùa đông, họ mặc áo làm bằng vỏ cây. Hiện nay đồng bào ăn mặc giống như người Việt.
2. Văn nghệ:
Nhạc cụ: Đàn ống, đàn Chơ-ra-bon, khèn bè, sáo 6 lỗ,...
Nhạc điệu: Người Chứt có rất nhiều làn điệu dân ca như Kà-tưm, Kà-lềnh, ca dao hát ru (Ca dao cơm Pồi,...)
3. Phong tục - tập quán:
Hôn nhân: Người Chứt có quan hệ vợ chồng bền vững. Trước khi cưới, nhà trai phải chọn ông mối, đi dạm hỏi vài lần. Lễ vật quan trọng nhất thiết phải có thịt khỉ sấy khô. Người Chứt có tục ở rể 2-3 năm sau lễ ăn hỏi.
Ma chay: Nhà giàu làm quan tài bằng thân cây khoét rỗng; nhà nghèo chỉ bó người chết bằng vỏ cây.
IVẨm thực, lễ hội đặc trưng:
1. Ẩm thực:
Lương thực chủ yếu của người Chứt là nhúc, ngô, sắn, gạo. Họ thường ăn 2 bữa chính, buổi sáng (6-7 giờ) và chiều (16-17 giờ). Bữa trưa thường ăn khoai, sắn luộc. Những khi mất mùa, giáp hạt, người dân vẫn phải ăn bột nhúc hoặc một số củ, quả rừng thay cơm.
Uống nước chè là tập quán lâu đời của người Chứt. Ngoài ra, họ cũng thích uống rượu, hút thuốc và ăn trầu.
2. Lễ hội:
Lễ hội Tết Lấp lỗ
Lễ hội thường được tổ chức vào ngày 7/7 âm lịch hằng năm với ý nghĩa “cắm lỗ, gieo hạt”, báo hiệu đã hoàn thành việc gieo, trỉa, trên nương rẫy, tết còn là dịp để người dân tổ chức ăn mừng, cảm tạ trời đất, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình mạnh khỏe, no đủ và phát triển.
Tết Lấp Lỗ có hai phần. Phần lễ bao gồm các nội dung khai mạc, dựng cây nêu, cột lễ, cung nghinh lễ vật, nghi thức cúng lễ. Phần hội bao gồm các hoạt động dân ca, dân vũ vui Tết, vui hội trò chơi dân gian, giao lưu đá bóng…
Tại lễ hội, người Chứt dựng cột lễ và 4 cây nêu là biểu tượng cho 4 phương Đông - Tây - Nam - Bắc. Cây nêu, cột lễ là biểu tượng tâm linh của bản làng, là nơi để thần linh trú ngụ và hưởng dùng các lễ vật hiến tế. Cây nêu, cột lễ còn được xem là cây thông thiên, là cột báo hiệu điểm đến để gửi tin báo mời thần linh về dự hội.
Một trong những nghi lễ quan trọng của người Chứt trong ngày Tết, đó là việc làm lễ để cúng tại bìa rừng. Vào ngày này, bà con dân bản đều gác mọi việc, cắt cử người theo thầy cúng chuẩn bị lễ. Khi mọi thứ xong xuôi, tất cả bà con tập trung về đây, chờ thầy cúng làm lễ.
V. Đóng góp:
Dân tộc Chứt làm phong phú thêm sự đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, đồng thời với kinh nghiệm sống gắn bó với rừng, người Chứt đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và ổn định đời sống ở khu vực miền núi, góp phần giữ gìn lãnh thổ.