I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Hrê.
Tên gọi khác: Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Luỹ, Mọi Sơn Phòng, Mọi Ðá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Màn Thạch Bích.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (Ngữ hệ Nam Á).
Dân số: Khoảng 149.460 người.
Phân bố dân cư: Người Hrê sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Ðịnh (Gia Lai mới), một số ít ở tỉnh Kon Tum.
Nguồn gốc: Người Hrê thuộc số cư dân sinh tụ rất lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.
II. Đời sống xã hội:
1.Nghề nghiệp:
Phần lớn người Hrê làm ruộng nước là chính, chỉ có một bộ phận sống chủ yếu nhờ rẫy.
Nuôi trâu, lợn, chó, gà.
Nghề thủ công chỉ có đan lát và dệt vải nhưng nay cũng không phát triển, nhất là nghề dệt chỉ còn ở vài nơi.
Hái lượm, săn bắt và đánh cá cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho mỗi gia đình.
2. Nhà ở: Nhà sàn của người Hrê được làm hoàn toàn từ các nguyên vật liệu thiên nhiên như các cây gỗ, các loại, tre, nứa, mây và các loại dây rừng (xi-rạc), tranh. Nhà có hình chữ nhật dài, có hai đầu (tra), một bên ngắn (pa-ra chin) và một bên dài (pa-ra soang) đều dùng để tiếp khách, phần giữa gian nhà dùng cho sinh hoạt gia đình. Quy mô ngôi nhà tùy thuộc vào điều kiện kinh tế gia đình. Nhà ở trong làng đều dựng ngang triền đất dốc.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục: Nam giới Hrê thường đóng khố, dài tới 4-5m, có phần tua ở đầu khố, dài thêm 20cm. Phụ nữ Hrê mặc áo năm thân, cài khuy bên sườn phải, mặc dài xuống quá thắt lưng.
2. Văn nghệ dân gian:
Nhạc cụ thường dùng của người Hrê là bộ chiêng ba chiếc, bộ cồng ba chiếc, trống, các loại đàn ống tre hoặc có vỏ bầu làm hợp âm, sáo, nhị, đàn môi, nữ giới thì chơi bộ ống vỗ hai chiếc.
Dân ca phổ biến nhất là điệu Katê và Ka choi.
Truyện cổ (Hmon) được lưu truyền như một vốn quý trong văn hoá dân tộc, gồm những đề tài khác nhau.
3. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Cư trú phía chồng hay phía vợ là tuỳ thoả thuận giữa hai gia đình, phần đông sẽ dựng nhà ở riêng sau khi có con đầu lòng. Ðám cưới có nghi thức dâu và rể kết gắn với nhau thông qua việc trao bát rượu, miếng trầu cho nhau hay quàng chung một vòng dây sợi...Vợ goá có thể lấy tiếp em chồng, chồng có thể lấy cả em vợ. Con cô - con cậu, con gì - con già, con có chung mẹ hoặc cha đều không được lấy nhau.
Sinh đẻ: Việc sinh đẻ diễn ra bên cạnh bếp lửa trong nhà, có là đỡ hộ sinh, cắt rốn bằng dao, cái rau được gói trong mo cau rồi đem bỏ trong rừng hoặc chôn cạnh nhà. Sản phụ nghỉ ngơi vài chục ngày, kiêng ăn cá niêng, trứng, chuối, thịt gà trắng... Ðứa bé đầy tháng mới làm lễ đặt tên.
Ma chay: Quan tài độc mộc có dáng hao hao chiếc thuyền. Người chết được quàn tại nhà từ 1 đến 3 ngày rồi chôn trong bãi mộ của làng. Mộ đắp thành gò dài trên dựng nhà mồ có nóc mái làm như nhà ở. Tang gia “chia của” tựa hồ cho người chết đi ở riêng: từ đồ ăn thức uống cho đến vật dụng trong nhà, từ trang phục, công cụ lao động...đều có ở mộ.
Thờ cúng: Người Hrê có nhiều kiêng cữ và lễ thức tôn giáo, xuất phát từ quan niệm mọi vật đều có hồn hay ma và con người bị các lực lượng siêu nhiên chi phối. Khi ốm đau, rủi ro, khi làm nhà, mang thai, đẻ khó, có người chết, khi gieo cấy và gặt hái, khi gieo trỉa và tuốt lúa, khi đưa thóc lên kho và lần đầu lấy thóc về ăn...đều cúng bái. Cộng đồng làng chỉ tổ chức cúng cầu an, tránh dịch bệnh, còn lại đều là các lễ cúng của gia đình.
Lễ tết: Lễ hội có đâm trâu là lớn nhất, dù đó là lễ của làng hay một nhà cũng đông vui. Hàng năm, người Hrê ăn tết vào khoảng tháng 10, sau khi thu hoạch lúa, nay nhiều làng theo tết Nguyên đán.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Ẩm thực: Cơm gạo tẻ là thức ăn chính của người Hrê, vào các dịp lễ tết họ có thêm cơm nếp. Thức uống có nước lã, nước chè xanh, rượu cần (nay rượu cất khá thông dụng). Các món ăn đặc trưng của ẩm thực miền núi: thịt trâu nướng lá lốt, thịt trâu nấu xà bần, món heo ki luộc, gà re luộc nấu cháo chấm muối ớt, cá niêng nướng, cáo dzố, ốc đá nấu rau ranh, các loại rau rừng, rượu cần, rượu đoác…
Lễ hội đâm trâu của đồng bào Hrê là một trong những nghi lễ cộng đồng quan trọng nhất trong đời sống văn hóa truyền thống, được tổ chức nhằm cầu an, ngăn ngừa bệnh tật và cầu mong mưa thuận gió hòa cho cả làng sau mùa thu hoạch. Trước lễ chính, làng chuẩn bị cây nêu – một trục “thông linh” được chuẩn bị kỹ lưỡng cả tháng bởi những người thợ thủ công, sau đó con trâu được dẫn ra buộc vào cây nêu trong không gian thiêng của khu rừng. Chủ lễ cùng thầy cúng thực hiện nghi thức xin phép thần linh, sau đó trai làng nhảy múa, đánh chiêng trống xung quanh trong tiếng ca hát rộn rã rồi tiến hành nghi thức đâm trâu, tượng trưng cho sự dũng mãnh, hy sinh và cúng các thế lực siêu nhiên. Máu trâu được dùng để gắn lên hoa văn cây nêu, thịt trâu được chia cho các gia đình và chế biến cúng thần. Lễ hội thường kéo dài 2–3 ngày đêm, có nơi kéo dài đến 5–7 ngày, kết hợp với múa hát, uống rượu, và là dịp giao lưu của trai gái trong và ngoài làng.
V. Đóng góp:
Dân tộc Hrê có nhiều đóng góp quan trọng trong lịch sử và sự phát triển chung của đất nước. Người Hrê tiếp tục gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa đặc sắc, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam. Tiêu biểu như nghệ thuật trình diễn Chiêng Ba của người Hrê và nghề dệt thổ cẩm làng Làng Teng, đều được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Những giá trị đó thể hiện tinh thần yêu nước, ý thức bảo tồn truyền thống và sự đóng góp bền bỉ của dân tộc Hrê vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.