I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Sán Dìu (San Déo Nhín, Sơn Dao Nhân, Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc, Mán Váy Xẻ).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán Quảng Ðông (ngữ hệ Hán - Tạng).
Dân số: Khoảng 183.004 người.
Phân bố dân cư: Cư trú chủ yếu ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh (Bắc Giang cũ), Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hải Phòng (Hải Dương cũ).
Đặc điểm cư trú: Họ cư trú thành những chòm, xóm riêng.
Nguồn gốc: Người Sán Dìu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp:
Người Sán Dìu có làm ruộng nước nhưng không nhiều, canh tác ruộng khô là chính.
Chăn nuôi: trâu, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, ong, tơ tằm…
Nghề thủ công: Đan lát, kéo sợi, dệt vải, gốm, mộc, rèn…Xưa kia, người Sán Dìu còn có nghề dùng giấy dó, đóng thành quyển, viết bằng bút lông, mực Tàu, để ghi chép gia phả, văn mo, lịch, truyện cổ tích, thơ ca…
Tổ chức gia đình: Hình thức tiêu gia đình phụ quyền phổ biến.
Nhà ở: Nhà ở truyền thống của người Sán Dìu là nhà đất trình tường hay thưng ván, đất cho vào khuôn giã bằng 8 khuôn chồng lên cao 3,2m, tùy điều kiện nhà thường 3 gian, 4 gian, 5 gian. Ngày nay, người Sán Dìu đã làm nhà hiện đại và cầu kỳ hơn.
III. Văn hóa đặc trưng:
1.Trang phục:
Trang phục nữ: Y phục truyền thống của phụ nữ gồm khăn đen, áo dài (đơn hoặc kép), nếu là áo kép thì bao giờ chiếc bên trong cũng màu trắng còn chiếc bên ngoài màu chàm dài hơn một chút; yếm màu đỏ; thắt lưng màu trắng, hồng hay xanh lơ; váy là hai mảnh rời cùng chung một cạp, chỉ dài quá gối có màu chàm; xà cạp màu chàm; xà cạp màu trắng. Ðồ trang trí gồm vòng cổ, vòng tay, hoa tai và dây xà tích bằng bạc.
Trang phục nam: Dịp tết, lễ hội, nam thường mặc áo dài màu đen, quần trong màu trắng, áo năm thân và có hò cài khuy bên phải, ống tay hẹp, áo chỉ dài quá gối một chút. Phổ biến là đi guốc mộc đẽo bằng gỗ hoặc tre nhưng có hai vết lõm nơi ngón chân thứ hai đặt vào để có thể bám chặt vào guốc.
2. Văn nghệ dân gian:
Nhạc cụ: trống, thanh la, não bạt, kèn, sáo, tù và…
Một số điệu múa: dâng đèn, chạy đàn, múa gậy…
Lối hát giao duyên nam nữ Soọng cô.
3. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Yêu tự do, kết hôn do bố mẹ quyết, lễ quan trọng là khai hoa tửu.
Ma chay: Bò quanh huyệt, rải đất, lấy thóc may mắn, chia thịt gà; cải táng xương theo tư thế ngồi.
Nhà mới: Họ, làng giúp dựng, lễ lên nhà mới có lửa, bình vôi, hạt giống.
Tín ngưỡng: Bàn thờ 3 bát hương (tổ tiên, pháp sư, táo quân); thờ thổ thần, người mới chết chưa lập ma đặt bát thấp hơn.
Lễ tết: Giống dân tộc vùng; tết Đông chí cầu con đàn, cháu đống.
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Người Sán Dìu ăn cơm tẻ, độn thêm khoai sắn. Sau bữa ăn, thường húp thêm bát cháo loãng. Một số món ăn đặc sản như Khau nhục, thịt thính, thịt ướp chua, bánh lá ngải, xôi nhuộm màu, bánh chưng gù, bánh bạc đầu, bánh tài lồng ệt…
Lễ hội Đại Phan được tổ chức vào cuối năm, kéo dài khoảng 5 ngày 4 đêm. Trong lễ hội diễn ra nhiều hoạt động truyền thống như rước thành hoàng làng, dựng cây phan (cây nêu), hát soọng cô, leo gươm, lội qua than hồng và cấp sớ điệp sắc phong cho thầy cúng. Lễ hội mang ý nghĩa cầu mong dân làng được an yên, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt và xua đuổi tà ma, đem lại cuộc sống bình yên, ấm no cho cộng đồng.
V. Đóng góp:
Trong kháng chiến, dân quân dân tộc Sán Dìu luôn sát cánh cùng các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Người Sán Dìu bảo tồn di sản dân gian phong phú như ca dao, truyện cổ, tục lệ, ngôn ngữ - đây là nguồn giá trị văn hóa quan trọng của Việt Nam. Di sản văn hóa Sán Dìu như hát Soọng cô…đã góp phần lớn vào việc giữ gìn và truyền bá bản sắc dân tộc. Hát Soọng cô của người Sán Dìu đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.