I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Thái ( Tay, Thay, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ).
Nhóm địa phương: Thái Đen (Tày Đăm), Thái Trắng (Tày Khao), Thái Đỏ (Tày Đeng), Tày Thanh (Man Thanh), Tày Mười, Tày Mường (Hàng Tổng), Tày Khăng. Ở Việt Nam thì nổi trội nhất là nhóm người Thái Đen và Thái Trắng.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ngữ hệ Thái - Kađai.
Dân số: khoảng1.820.950 người.
Phân bố dân cư: Cư trú chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, tập trung ở các tỉnh Lai Châu, Hòa Bình, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai (Lào Cai, Yên Bái Cũ), Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Đồng (Đắk Nông cũ), Đắk Lắk.
Nguồn gốc: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp:
Nông nghiệp trồng lúa nước theo hệ thống thủy lợi truyền thống, trồng thêm ngô, hoa màu, bông, cây thuốc nhuộm và dâu tằm.
Chăn nuôi lợn, trâu, dê và nuôi tằm.
Tổ chức xã hội - gia đình: Gia đình người Thái theo chế độ phụ hệ. Trong xã hội cổ truyền, cơ cấu tổ chức gồm bản mường hay đằm theo tông tộc. Mỗi người có ba quan hệ dòng họ quan trọng: Ải Noong (nam sinh ra từ cùng ông tổ bốn đời), Lung Ta (nam thuộc họ vợ các thế hệ), Nhinh Xao (nam thuộc họ người đến làm rể).
Nhà ở: Người Thái sàn với nhiều kiểu dáng khác nhau như mái tròn hình mai rùa, hai đầu mái hồi, nhà 4 mái hình chữ nhật, nhà sàn dài hoặc mái thấp giống nhà Mường. Người Thái Đen thường làm mái hình mui rùa với hình tượng “khau cút” đặc trưng, trong khi Thái Trắng dựng nhà hình chữ nhật, có lan can gỗ quanh nhà. Cầu thang trong nhà sàn vừa mang giá trị văn hóa, tôn giáo, vừa gắn với các kiêng kỵ về giới tính và sinh đẻ.
III. Văn hóa đặc trưng:
1. Trang phục:
Trang phục nữ: Phụ nữ Thái Trắng mặc áo cánh ngắn màu sáng, trắng, cài cúc bạc hình bướm hoặc ong; váy màu đen, không trang trí hoa văn; khăn đội đầu bằng vải chàm dài khoảng hai mét. Phụ nữ Thái Đen mặc áo cánh ngắn màu tối (chàm hoặc đen); thiếu nữ chưa lập gia đình đội khăn piêu thêu tỉ mỉ, phụ nữ đã lập gia đình búi tóc lên đỉnh đầu gọi là “tằng cẩu”, khi góa có thể búi tóc thấp sau gáy; họ đeo nhiều trang sức như vòng cổ, vòng tay, hoa tai, trâm cài tóc, xà tích.
Trang phục nam: Nam giới Thái có hai loại áo: áo cánh ngắn và áo dài; áo ngắn may bằng vải chàm, xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn, khuy bằng đồng hoặc tết nút vải; hoa văn ít xuất hiện, chỉ trong dịp trang trọng mới mặc áo mới với đôi quả chì (mak may) ở hai bên hông.
Văn nghệ dân gian: Nổi bật với múa xòe với 6 điệu cổ, các bài hát dân ca như Khắp Thái hay Keng loóng, và các truyện thơ dân gian như Xống chụ xon xao.
2. Phong tục tập quán:
Hôn nhân: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể, gồm hai bước cơ bản: Cưới lên (đong khửn) - rể cư trú nhà vợ, thử thách phẩm giá và lao động; người Thái Đen có tục búi tóc ngược cho vợ sau lễ cưới, thời gian ở rể từ 8-12 năm; Cưới xuống (đong lông) - gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre treo trên cây, sản phụ sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng cữ một tháng; trẻ em được dạy lao động theo giới tính và đặt tên qua nghi thức Lung Ta.
Ma chay: Có hai bước gồm Pông - tiễn hồn người chết, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng) hoặc thiếu (Thái Đen); Xống - gọi ma trở về ở gian thờ tổ tiên.
Nhà mới: Lung Ta châm lửa bếp, cúng xua đuổi điều ác, tổ tiên phù hộ và tổ chức vui chơi.
Lễ tết và cúng tổ tiên: Thái Đen cúng vào tháng 7-8 âm lịch, Thái Trắng theo âm lịch; bản Mường thờ thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột. Các nghi lễ gắn với chu kỳ sản xuất và đời sống cộng đồng như lễ xuống đồng, cầu mưa, rước hồn lúa, cầu mùa, mừng cơm mới…
IV. Ẩm thực - Lễ hội:
Người Thái có ẩm thực phong phú với gạo tẻ là lương thực chính, gạo nếp dùng làm xôi. Mâm ăn thường có chéo (ớt giã, muối, tỏi, rau thơm, gan gà, ruột cá, cá nướng). Thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại dùng nặm pịa (nước nhúng lòng non); thịt, cá ăn tươi làm nộm, nhúng, ướp muối, thính; ăn chín nướng, lùi, đồ, sấy, rồi đến canh, xào, rang, luộc. Người Thái ưa vị cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng ngọt, lợ, đậm, nồng; uống rượu cần và cất rượu. Hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa; Thái Trắng có lệ mời người xung quanh trước khi hút.
Lễ hội nổi bật của đồng bào Thái là lễ hội Lùng Tùng được tổ chức hằng năm vào dịp tháng Giêng sau Tết, thường diễn ra từ ngày mùng 6 đến mùng 10 tháng Giêng. Đây là hoạt động tín ngưỡng mang tính chất nghi lễ nông nghiệp cổ xưa, mở đầu cho một mùa sản xuất mới của người Thái ở huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Lễ hội nhằm cầu cho một năm sản xuất mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, người dân khỏe mạnh. Lễ hội Lùng Tùng (Lễ hội xuống đồng) của người Thái gồm hai phần: lễ và hội. Trong phần lễ diễn ra nghi thức cày bừa, gieo hạt. Chính quyền cùng bà con dân bản xuống đồng tham gia cày bừa, mở đầu cho một năm sản xuất mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, người dân được khỏe mạnh. Trong phần hội, bà con và khách thập phương được tham gia các trò chơi dân gian như: tó má lẹ, bắn nỏ, kéo co, tung còn và giao lưu văn nghệ với những tiết mục hát dân ca, múa xòe, nhảy sạp.
V. Đóng góp:
Để duy trì, phát huy giá trị di sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, là di sản đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Huyện Quỳ Châu đã chỉ đạo thành lập được 05 Câu lạc bộ Dân ca ví, giặm tại 05 cụm cấp trường học; và 02 câu lạc bộ dân ca ví - giặm tại làng Lâm Hội, xã Châu Hội và làng Hòa Bình, xã Châu Bình. Người Thái ngày nay đã và đang giữ gìn, góp phần đóng góp vào nền văn hóa đa dạng của Việt Nam.