I. Giới thiệu chung:
Tên dân tộc: Mường, tự gọi là Mol (hoặc Mon, Moan, Mual).
Ngôn ngữ: Tiếng nói ngôn ngữ thuộc nhóm Việt - Mường trong ngữ hệ Nam Á.
Dân số: khoảng 1.500.000 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).
Phân bố dân cư: Người Mường cư trú tập trung thành làng ở chân núi, sườn đồi, gần sông suối thuộc các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ.
II. Đời sống xã hội:
Nghề nghiệp: Sản xuất nông nghiệp ruộng nước là ngành quan trọng nhất, lúa là cây trồng chủ lực. Người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi nhỏ. Ngoài làm ruộng, họ còn canh tác nương rẫy, chăn nuôi, săn bắt, đánh cá, hái lượm và duy trì nhiều nghề thủ công như dệt vải và đan lát.
Tổ chức - xã hội: chế độ phụ hệ. Con cái mang họ cha và con trai trưởng có vị trí quan trọng.
Nhà ở: phổ biến nhà sàn bốn mái, phía trên để ở, phía dưới làm chuồng gia súc và nơi đặt cối giã gạo.
Lịch cổ truyền của người Mường gọi là sách đoi (hay lịch đoi) làm bằng 12 thẻ tre ghi ký hiệu để tính ngày giờ tốt xấu; riêng Mường Bi có cách tính “ngày lùi, tháng tới” đặc trưng.
III. Văn hoá đặc trưng:
Trang phục:
+ Trang phục nữ phong phú và kín đáo với khăn trắng hình chữ nhật, áo ngắn, yếm và váy dài, nổi bật nhất là cạp váy dệt hoa văn tinh xảo; trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích.
+ Thầy mo sử dụng y phục riêng khi hành lễ với áo dài năm thân màu xanh hoặc đen, dây lưng trắng và mũ vải nhọn.
- Văn nghệ dân gian:
+ Văn nghệ Mường phong phú với hát Xéc bùa, Thường, Bọ mẹng, ví đúm, hát ru, đồng dao và các áng mo trong tang lễ; cồng chiêng giữ vị trí quan trọng trong âm nhạc.
Phong tục - tập quán:
+ Cưới xin: Hôn nhân cho phép trai gái tự do tìm hiểu, cưới xin trải qua nhiều bước như ướm hỏi, lễ bỏ trầu, lễ xin cưới và lễ đón dâu; lễ vật phong phú và có sự tham gia đông đủ của họ hàng nội ngoại.
+ Sinh đẻ: Khi sinh nở, người chồng làm bếp riêng, bà đỡ cắt rốn bằng dao nứa lấy từ mái nhà; cuống rốn các con được giữ chung trong ống nứa để cầu mong tình cảm anh em gắn bó. Sau sinh, mẹ phải kiêng cữ bên bếp lửa 7 đến 10 ngày và ăn cơm nếp cẩm với lá thuốc.
+ Ma chay: Trong đời sống tinh thần, nghi lễ “tế quạt ma” là nét độc đáo trong đám tang. Tế quạt ma được tiến hành khi nhà có tang từ khi xảy ra đám tang cho đến lúc đưa người chết về nơi yên nghỉ. Tham gia múa quạt mà là tất cả các con dâu trong gia đình người chết. Họ được sắp sếp theo thứ bậc từ dâu cả đến các cô dâu ở bậc thấp nhất, hướng về phía thầy Mo. Mục đích của nghi lễ quạt ma này nhằm tỏ lòng thương tiếc và yêu quý người đã chết, dâu hiền quạt mát cho linh hồn người chết thanh thản.
IV. Ẩm thực, lễ hội:
1. Ẩm thực:
Trong ẩm thực, họ ưa dùng các món đồ như xôi, cơm tẻ đồ, rau cá đồ; cơm và rau sau khi đồ được tãi ra rá để không bị nát. Rượu cần là thức uống nổi tiếng, thường dùng trong dịp tiếp khách và các cuộc vui. Nam nữ đều thích hút thuốc lào bằng điếu lớn, phụ nữ còn có thói quen chuyền chung một điếu.
2. Lễ hội:
Lễ hội Khai hạ gắn với truyền thuyết Quốc Mẫu Hoàng Bà - người có công gây dựng mảnh đất Mường. Lễ hội mang ý nghĩa tôn kính các vị thần linh, tưởng nhớ những người đã có công lập đất, lập mường và cầu mong vạn vật sinh sôi phát triển, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nghi lễ cũng thay lời dân Mường thỉnh cầu ước nguyện với trời đất, thần thánh, tổ tiên cho mưa thuận, gió hòa, gửi gắm một vụ mùa bội thu, năm mới ấm no, mọi người mạnh khỏe, bình yên về trên bản Mường đồng thời khuyến khích người dân trăm họ chăm lo sản xuất.
Sau lễ cúng, người nam giới khỏe mạnh được cử vác cày, lùa trâu xuống cánh đồng, những con trâu to, khỏe mạnh mẽ kéo chiếc cày lưỡi sắc, kéo những đường cày thẳng, sâu trên đồng ruộng. Chị em phụ nữ cũng nhổ mạ, đi cấy.
Lễ hội Khai hạ Mường Vang tổ chức vào ngày mùng 4 (hoặc mùng 7) tháng Giêng.
V. Đóng góp:
Bằng sự thích nghi linh hoạt qua nhiều thế kỷ, người Hoa đã tạo nên một không gian văn hóa pha trộn đặc sắc, góp phần làm giàu thêm bản đồ văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam.